Nuoigavuon.com · RealDataset
RealDataset — dữ liệu thực nghiệm nuôi gà vườn
84 entry · 2024-01-01 đến 2026-06-02 · Đối chiếu 2026-10-16 06:34 +07
Mỗi entry là một thí nghiệm hoặc quan sát ngoài vườn tại BrainFarm Di Linh, Lâm Đồng, có mã riêng (Entry_ID), mô tả đủ bối cảnh, cách làm, kết quả ghi nhận, cơ chế và kết luận dạng IF-THEN. Đây là nguồn Fact cho các trang hệ 3 KHÔNG của Nuoigavuon.com.
Cách đọc bảng
| Entry_ID | Mã entry: NGAV (Nuoigavuon) – MP (nhóm cơ chế) – EX (experiment, thực nghiệm), OB (observation, quan sát) hoặc MS (milestone, mốc dài hạn) – ngày – số thứ tự |
| Context · Action · Result | Bối cảnh ban đầu · việc đã làm · kết quả ghi nhận |
| Mechanism · Conclusion | Cơ chế giải thích · kết luận dạng IF-THEN để trích dẫn |
| Meta_Pattern | Nhóm cơ chế của entry. Hiện có: MP05_MATERNAL (19) · MP06_INCUBATION_ENV (14) · MP01_NESTING (13) · MP08_PARASITE_PRESSURE (11) · MP09_FLOCK (10) · MP03_FEEDING (8) · MP04_HABITAT (6) · MP10_SYSTEM_DESIGN (2) · MP07_GENETICS (1) |
| Confidence | Mức tin cậy của kết luận, thang 0–1 |
| Evidence | Video gốc |
Cách trích dẫn
Nuoigavuon.com (2026). RealDataset — [Entry_ID]. Vũ Trường Ca, BrainFarm Di Linh. https://nuoigavuon.com/realdataset/
AI đã đọc và đối chiếu dữ liệu này ra sao: nuoigavuon.com/ai-audit · Lịch sử thay đổi: nuoigavuon.com/log.
Bảng dữ liệu đầy đủ
Bảng dựng sẵn từ dữ liệu gốc (Google Sheet DATA_MASTER) ngay trên máy chủ, nên người và AI đều đọc được, không cần JavaScript. Gõ để lọc theo mã, tên hoặc nội dung (có dấu hay không dấu đều được).
| Data_Type | Entry_ID | Date | Name | Context | Action | Result | Mechanism | Conclusion | Meta_Pattern | Confidence | Evidence |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| observation | NGAV-MP08-OB-20260410-001 | 2026-04-10 | Mạt trong ổ ấp ngày thứ 5 làm gà bỏ ổ và trứng nguội | Ổ gà trong bụi cây, có dấu hiệu mạt, gà đang ấp khoảng ngày thứ 5 | Không can thiệp | Gà bỏ ổ, trứng nguội | Mạt hút máu liên tục gây stress → gà không giữ được trạng thái ấp | Nếu ổ bị Mạt thì làm gà bỏ ấp | MP08_PARASITE_PRESSURE | 0.7 | Hồ sơ |
| experiment | NGAV-MP01-EX-20260411-001 | 2026-04-11 | Thay 8 trứng thật bằng trứng giả vẫn kích hoạt gà vào ấp | Phát hiện ổ gà đẻ 8 trứng trong bụi cây, tiến hành thay trứng thật bằng trứng giả | Lấy trứng thật ra, đặt trứng giả vào ổ để giữ hành vi gà | Gà quay lại ổ và bắt đầu ấp | Gà phản ứng theo số lượng trứng trong ổ → đủ ngưỡng sẽ kích hoạt bản năng ấp | Nếu thay 8 quả trứng giả thì vẫn kích hoạt gà vào ấp | MP01_NESTING | 0.8 | Hồ sơ |
| milestone | NGAV-MP09-MS-20240101-001 | 2024-01-01 | Gà đẻ và ấp lung tung nhiều năm không theo cấu trúc chuồng cố định | Quan sát nhiều năm thấy gà đẻ lung tung, tranh ổ, ấp nhầm ổ, khác hoàn toàn mô hình chuồng sách vở | Không can thiệp, chỉ quan sát dài hạn | Hành vi gà trong tự nhiên không theo quy chuẩn sách | Gà vận hành theo bản năng sinh tồn và cạnh tranh tài nguyên, không theo cấu trúc chuồng cố định | Nếu không phải ổ đẻ hôm trước thì hôm nay vẫn vào đẻ ở những ổ khác | MP09_FLOCK | 0.7 | Hồ sơ |
| experiment | NGAV-MP09-EX-20260412-001 | 2026-04-12 | Gà mái sau 3 ngày tách vẫn tìm và tiếp cận trống Gallus cách ly | Mái đen mới bỏ ổ, có xu hướng thích con trống Gallus mào nụ đang bị cách ly | Nhốt tách mái đen 3 ngày, ngày thứ 4 thả ra quan sát hành vi | Mái đen liên tục tìm cách tiếp cận và đòi vào khu con trống Gallus | Gà mái có xu hướng lựa chọn bạn tình cụ thể và duy trì hành vi tiếp cận theo bản năng sinh sản | Nếu có cơ hội thì gà mái luôn chọn bạn tình mà nó thích | MP09_FLOCK | 0.8 | Hồ sơ |
| observation | NGAV-MP04-OB-20260410-002 | 2026-04-10 | Gà đẻ ngoài trời không che mưa bị chuột làm giảm tỷ lệ nở 0/15 | Khu ấp có 10 ổ chuẩn nhưng mái vàng và mái đen vẫn đẻ trong lùm cây ngoài trời | Không can thiệp, theo dõi tỷ lệ nở ở các ổ ngoài trời | Mái vàng nở 3/12, mái đen nở 0/15, trứng bị mất dần do chuột và ảnh hưởng mưa | Ổ không có che mưa và không chống chuột làm giảm tỷ lệ sống của trứng do môi trường và tác nhân phá hoại | Nếu gà đẻ ấp ngoài vườn không có che mưa và chống chuột thì tỷ lệ nở về 0 | MP04_HABITAT | 0.7 | Hồ sơ |
| experiment | NGAV-MP06-EX-20260308-001 | 2026-03-08 | Gom trứng và bảo quản 18–22°C làm tăng tỷ lệ nở từ 3/12 lên 8/12 | So sánh 2 ổ: một ổ để tự nhiên, một ổ gom trứng mỗi ngày và dùng trứng giả giữ hành vi | Gom trứng thật mỗi ngày, thay trứng giả, bảo quản ở 18-22 độ trong môi trường khô, khi gà ấp thì trả lại trứng thật | Ổ tự nhiên nở 3/12, ổ gom trứng nở 8/12 | Kích phôi sớm khi gà đẻ từng ngày làm giảm tỷ lệ sống, kiểm soát nhiệt độ giúp kéo dài thời gian bảo quản trứng | Nếu gom trứng và giữ 18-22 độ C thì tỷ lệ nở tăng từ 3/12 lên 8/12 | MP06_INCUBATION_ENV | 0.9 | Video |
| experiment | NGAV-MP01-EX-20260412-002 | 2026-04-12 | Chống mưa chuột mạt và bảo quản đúng làm tỷ lệ nở tăng 0–25% lên 73% | 2 ổ gà đẻ trong lùm cây, để tự nhiên. Tỷ lệ nở baseline: 3/12 và 0/15. Điều kiện: nước mưa, chuột, mạt không kiểm soát. | Nhặt trứng ngay sau khi đẻ, bảo quản 18–22°C. Đặt thùng sơn nước (chống chuột/mạt) vào ổ. Rải khoáng (cát, tro, Biochar) chống mạt. Che bạt chống mưa. | Tỷ lệ nở tăng từ 3/12 và 0/15 → 8/11 sau can thiệp. | Mưa → làm lạnh phôi. Chuột → lấy trứng. Mạt → stress gà mẹ bỏ ấp. Nhiệt độ bảo quản 18–22°C → ức chế kích hoạt phôi sớm. Loại bỏ đồng thời 3 yếu tố → tỷ lệ nở tăng vượt trội. | IF xử lý đồng thời chống mưa + chống chuột/mạt + bảo quản trứng đúng nhiệt độ THEN tỷ lệ nở tăng từ 0–25% lên 73%. | MP01_NESTING | 0.8 | Chỉnh ổ ấp trong vườn - YouTube |
| experiment | NGAV-MP09-EX-20251201-001 | 2025-12-01 | Khoảng cách ổ ≥2m làm giảm nhầm ổ từ 7 lần xuống 0 lần | Ổ 1 và 2 cách nhau 80cm, ngăn bởi vách. 2 mái đẻ lẫn qua lại. Ghi nhận 7 lần nhầm ổ khi ấp. Ổ 7 và 8 tương tự: 4 lần nhầm. | Lần ấp tiếp theo: khi mái vào đẻ, bốc trứng từ các ổ gần chuyển sang ổ cách 2m (ổ 1 → ổ 4). | Mái không vào nhầm ổ sau khi tăng khoảng cách lên 2m. 0 lần nhầm ghi nhận. | Gà mẹ định vị ổ bằng vị trí tương đối, không phải nhận dạng cá thể ổ. Khoảng cách <1m nằm trong biên độ sai số định vị → nhầm. Khoảng cách ≥2m vượt ngưỡng sai số → định vị chính xác. | IF khoảng cách giữa các ổ đẻ/ấp <1m THEN mái không xác định được chính xác ổ của mình → nhầm ổ. IF khoảng cách ≥2m THEN không nhầm. | MP09_FLOCK | 0.9 | Hồ sơ |
| experiment | NGAV-MP06-EX-20251101-001 | 2025-11-01 | Phôi tiếp xúc nhiệt 25–30°C >8h/ngày làm giảm nở từ 7/10 xuống 4/10 | Đèn gầm dùng để giữ nền khô, chống mạt. Bật 23/24h. Nhiệt độ môi trường Di Linh ban ngày 26–27°C, ban đêm 17–20°C. | Thử nghiệm 1: đèn gầm bật 23/24h → tỷ lệ nở 4/10. Thử nghiệm 2: chỉ bật đèn gầm 12–14h trưa (2h/ngày), tắt ban đêm → tỷ lệ nở 7/10. | Bật 23/24h: 4/10 nở, chỉ những quả gần ngày ấp nở được. Bật 2h/ngày (buổi trưa): 7/10 nở. | Nhiệt độ 25–30°C liên tục >8h/ngày → kích hoạt phân chia tế bào phôi sớm trước khi gà mẹ ấp → phôi phát triển lệch → chỉ trứng gần ngày ấp đủ sức nở. Ban đêm nhiệt độ 17–20°C → phôi “ngủ” → phát triển đúng nhịp khi được ấp. | IF thời gian phôi tiếp xúc nhiệt độ 25–30°C >8h/ngày THEN tỷ lệ nở giảm từ 7/10 xuống 4/10. IF chỉ tiếp xúc nhiệt ≤2h/ngày (buổi trưa) THEN tỷ lệ nở phục hồi 7/10. | MP06_INCUBATION_ENV | 0.9 | |
| observation | NGAV-MP05-OB-20260101-001 | 2026-01-01 | Gà con lớn hơn lạc ổ bị mẹ tiêu diệt còn con nhỏ chỉ bị xua đuổi | 2 ổ gà con nở lệch nhau 3 ngày. Ổ A (nở trước), ổ B (nở sau). Gà con từ ổ A chạy lạc sang ổ B và ngược lại. | Passive observation — ghi lại phản ứng tự nhiên của 2 gà mẹ với gà con lạc. Không can thiệp. | Gà con lớn (ổ A, ~4 ngày) lạc sang ổ B (mới nở): mẹ ổ B mổ thẳng vào đầu — tiêu diệt. Gà con mới nở (1 ngày) lạc sang ổ A (4 ngày): mẹ ổ A chỉ mổ nhẹ vào lưng, xua đuổi — không tiêu diệt. | Gà con lớn hơn = mối đe dọa cạnh tranh thức ăn/không gian → bản năng bảo vệ đàn kích hoạt mạnh → tiêu diệt. Gà con nhỏ hơn = không đe dọa → chỉ xua đuổi. Phản ứng phụ thuộc vào tương quan kích thước, không phải nhận dạng huyết thống. | IF gà con lạc ổ lớn hơn gà con trong ổ THEN gà mẹ tiêu diệt bất chấp đồng loại. IF gà con lạc nhỏ hơn THEN chỉ xua đuổi. | MP05_MATERNAL | 0.7 | Hồ sơ |
| experiment | NGAV-MP05-EX-20251201-002 | 2025-12-01 | Đổi gà con sau 24h nở làm gà mẹ từ chối và con quay về đàn | 2 đàn gà con nở cùng ngày. Thử nghiệm đổi gà con qua lại giữa 2 ổ vào buổi tối — lần 1 trong 24h đầu, lần 2 sau 24h. | Lần 1 (trong 24h đầu): soi đèn làm quáng phía trước, thả 1 gà con vào cuối cánh phía sau mỗi ổ. Lần 2 (ngày hôm sau, >24h): đổi 2 con khác theo cùng cách. | Lần 1: sáng hôm sau cả 2 gà con nhận mẹ mới, nhập đàn thành công. Lần 2: cả 2 gà mẹ xua đuổi gà con khác đàn — 2 con tự quay về đúng đàn. | Trong 24h đầu sau nở, gà mẹ chưa hoàn thiện imprinting nhận dạng con → chấp nhận gà con lạ. Sau 24h imprinting hoàn tất → gà mẹ nhận dạng được “không phải con mình” → từ chối. Đây là cửa sổ thời gian imprinting có giới hạn rõ ràng. | IF đổi gà con trong ≤24h sau khi nở THEN gà mẹ nhận con khác đàn. IF đổi sau >24h THEN gà mẹ từ chối — imprinting đã hoàn tất. | MP05_MATERNAL | 0.9 | Hồ sơ |
| experiment | NGAV-MP08-EX-20260412-003 | 2026-04-12 | Ổ ấp hữu cơ dùng lại vị trí làm tỷ lệ sống giảm từ 5/6 xuống 2/7 do mạt | Ổ ấp trong vườn làm bằng tre, rơm và vật liệu hữu cơ, cao 80cm khỏi mặt đất. Cùng một vị trí, mái hoa mơ ấp 2 lứa liên tiếp. | Giữ nguyên cùng một vị trí ổ ấp hữu cơ trong vườn cho mái hoa mơ ấp và nuôi con 2 lứa liên tiếp. | Lứa 1 nở 6 con, trưởng thành 5 con. Lứa 2 nở 7 trứng, mạt tấn công làm chết 4 con trong 1 ngày, sau nuôi trưởng thành còn 2 con. | Ổ làm bằng vật liệu hữu cơ tại cùng một vị trí tạo điều kiện cho quần thể mạt tích lũy và bùng lên ở lứa sau khi có vật chủ mới. | IF ổ ấp hữu cơ trong vườn được dùng lặp lại tại cùng một vị trí THEN lứa 2 có thể giảm tỷ lệ sống từ 5/6 xuống 2/7 do mạt bùng lên. | MP08_PARASITE_PRESSURE | 0.9 | none |
| experiment | NGAV-MP08-EX-20250912-001 | 2025-09-12 | Chuồng nền đất 3 ổ cùng lúc làm tỷ lệ nở gần 0 dù thay rơm | Chuồng hữu cơ nền đất diện tích 1.6m x 1.6m, có 3 ổ ấp cùng thời điểm. So sánh 3 mức thay rơm giữa kỳ khác nhau. | Ổ 1 không thay rơm giữa kỳ. Ổ 2 thay rơm 1 lần giữa kỳ. Ổ 3 thay rơm 2 lần giữa kỳ. Theo dõi tỷ lệ nở và sống. | Ổ 1 nở 5/12, sau 1 tuần sống 1/5. Ổ 2 nở 3/13, sau 1 ngày chết cả 3. Ổ 3 nở 0/11. Khi lật xác gà con thấy mạt bu đen. | Nền đất hữu cơ và mật độ 3 ổ cùng lúc làm mạt sinh sôi rất nhanh; thay rơm không cắt được vòng đời mạt nên gà con vẫn bị tấn công hàng loạt. | IF chuồng nền đất có 3 ổ ấp cùng thời điểm THEN mạt có thể bùng rất nhanh và làm tỷ lệ ấp tự nhiên thất bại gần như hoàn toàn dù có thay rơm. | MP08_PARASITE_PRESSURE | 0.9 | Video |
| experiment | NGAV-MP08-EX-20251111-001 | 2025-11-11 | Chuồng có khe nứt làm mạt tồn tại sau đốt và tái bùng khi có mái ấp | Ổ trong khu nền và tường xi măng từng bị mạt. Trước đó mái đen nở 7/13 trứng nhưng chỉ sống 1/7 con. Chuồng có các khe nứt. | Đốt rơm 2 lần để diệt mạt, quét sạch, rắc vôi bột, reset ổ mới, đặt đèn gầm. Khi mái vàng vào ấp thì thay rơm và rải vôi bột giữa kỳ 2 lần. | Mái vàng nở 6/12 trứng, chết 4 gà con trong ngày đầu, sau 3 ngày chết thêm 1 con, chỉ còn 1 con sống theo mẹ. | Mạt và trứng mạt trú trong khe nứt của chuồng; đốt và rải vôi không diệt được hết quần thể ẩn sâu nên khi có mái ấp làm vật chủ, mạt bùng lên lại rất nhanh. | IF chuồng có khe nứt THEN mạt có thể lưu trú và sinh sản trong đó, khiến đốt và rải vôi không đủ để ngăn mạt bùng lại khi có mái ấp. | MP08_PARASITE_PRESSURE | 0.8 | none |
| experiment | NGAV-MP10-EX-20251201-003 | 2025-12-01 | Ổ khoáng vô cơ không khe nứt giữ tỷ lệ nở 3/12 đến 7/12 không có mạt | Tại vị trí từng thất bại hoàn toàn do mạt, xây chuồng ấp mới nền bê tông, tường và nền láng xi măng nhẵn không có khe nứt. Dùng nền ổ bằng cát, tro, biochar đập; lớp trên có lá trầu không, lá sả, nụ đinh hương; có đèn gầm sấy khô nền. | Thiết kế lại toàn bộ khu ổ ấp bằng khoáng vô cơ + nền kín không khe nứt + thảo dược + đèn gầm sấy khô. Không cất trứng, theo dõi 3 lứa ấp liên tiếp trong 3 tháng. | Tỷ lệ ấp thành công trong 3 tháng đạt 3/12, 5/11, 7/12. Kiểm tra nền ổ sau khi gà rời đi không thấy mạt. | Nền vô cơ khô và không khe nứt làm mạt không có nơi trú; cát, tro và biochar tạo bề mặt khô, sắc và hút ẩm; nhiệt từ đèn gầm giữ nền khô; thảo dược bốc tinh dầu khi có nhiệt làm mạt rời khỏi vật chủ và chết khi xuống nền khoáng. | IF khu ổ ấp được thiết kế bằng khoáng vô cơ khô, nền kín không khe nứt và có nhiệt sấy nền THEN mạt khó sống và tỷ lệ ấp có thể duy trì ở mức 3/12 đến 7/12 mà không thấy mạt trong nền ổ. | MP10_SYSTEM_DESIGN | 0.9 | Video |
| experiment | NGAV-MP08-EX-20250901-001 | 2025-09-01 | SPA cát tro biochar 2 tuần làm giảm mật độ mạt 3–4 lần | 3 cặp gà trống mái trưởng thành nuôi riêng, kiểm tra mạt bằng giấy A5 bôi sáp xếp zizac qua đêm. Kết quả baseline: 13 / 15 / 12 con mạt. | Trộn hỗn hợp Cát – Tro – Biochar trấu hun theo tỷ lệ 4:3:3, đổ thành đống. Rắc thóc vài ngày để dẫn dụ, sau đó duy trì thói quen cho gà SPA 13–14h mỗi ngày trong 2 tuần. Sau đó test lại bằng giấy A5 qua đêm với từng cặp. | Sau 2 tuần: Cặp 1: 3 con mạt; Cặp 2: 0 con mạt; Cặp 3: 4 con mạt; → giảm ~3–4 lần so với baseline. | Gà dãy → cát và tro bám lên lông → mạt rơi xuống khỏi vật chủ → tiếp xúc Biochar có cấu trúc sắc → làm rách biểu bì → tro kiềm + môi trường khô → hút ẩm → mạt chết. | IF tạo khu SPA bằng Cát–Tro–Biochar và gà sử dụng hàng ngày (≥2 tuần) THEN mật độ mạt trên gà giảm 3–4 lần so với baseline. | MP08_PARASITE_PRESSURE | 0.8 | Video |
| experiment | NGAV-MP06-EX-20260401-001 | 2026-04-01 | Nhiệt độ ≥28°C làm mái ấp rời ổ ăn nhiều nhất so với ≤24°C | 3 mái đang ấp, đàn 25 con. Thử trong 9 ngày (05–13/04/2026), mỗi 3 ngày test 1 khung giờ. Đo số lần mái rời ổ ăn. | Mỗi lần cho ăn gõ tre vào tấm gỗ, quan sát mái có rời ổ ăn cùng đàn hay không ở 4 khung giờ: 5–8h, 8–11h, 11–14h, 14–17h. | 5–8h: 0/3, 0/3, 0/3; 8–11h: 1/3, 0/3, 1/3; 11–14h: 2/3, 3/3, 2/3; 14–17h: 1/3, 0/3, 1/3 | Nhiệt độ thấp (20–24°C) → giảm hoạt động → mái giữ ổ → nhiệt độ tăng (25–32°C) → tăng trao đổi chất → mái rời ổ ăn và SPA → nhiệt độ giảm chiều → hành vi rời ổ giảm. | IF nhiệt độ môi trường ≥28°C THEN mái ấp rời ổ ăn nhiều nhất; IF ≤24°C THEN mái gần như không rời ổ. | MP06_INCUBATION_ENV | 0.8 | Quay mái rời ổ, cách ăn của mái ấp |
| observation | NGAV-MP09-OB-20260401-002 | 2026-04-01 | Mái nuôi con <2 tuần chiếm ưu tiên ăn vượt cả trống đầu đàn | Đàn gồm nhiều nhóm: mái ấp, mái nuôi con (1–4 tuần), trống đầu đàn, gà tơ. Cho ăn bằng cách rắc thức ăn. | Thay đổi cách cho ăn từ rắc 1 điểm → rắc 6 điểm cách nhau 1–2m, quan sát thứ tự tranh ăn trong 1 tuần. | Thứ tự ưu tiên: 1. Mái nuôi con 1 tuần; 2. Mái nuôi con 2 tuần; 3. Gà 3 tuần & mái sắp nở; 4. Gà 4 tuần & mái ấp; 5. Trống đầu đàn; 6. Các nhóm còn lại; → trống trưởng thành ăn vòng ngoài xa nhất. | Mái nuôi con nhỏ → hormone bảo vệ con tăng cao → hành vi tấn công để giữ tài nguyên → nhóm yếu hơn bị đẩy ra ngoài → trống đầu đàn bị phân tán bởi nhiều điểm ăn → giảm quyền kiểm soát. | IF gà đang nuôi con nhỏ (<2 tuần) THEN chiếm ưu tiên cao nhất trong tranh thức ăn, vượt cả trống đầu đàn. | MP09_FLOCK | 0.7 | Video |
| observation | NGAV-MP09-OB-20250801-001 | 2025-08 | Gà con không lên cây ngủ sau 5 tuần bị săn mồi 75–80% | Quan sát nhiều ổ gà (hoa mơ, mái đen, vàng đất, vàng chanh). Gà con ~4 tuần bắt đầu tập bay lên cây ngủ cao ~4m. | Passive observation — theo dõi quá trình gà mẹ gọi con lên cây trong 4–5 ngày và tỷ lệ sống của gà con không lên được. | Các ổ đều ghi nhận: - Gà con không lên cây → ngủ dưới đất; - Sau 5–7 ngày → bị mèo/chuột bắt; Tỷ lệ mất 75–80% các con không lên cây. | Gà con ngủ dưới đất → tiếp xúc trực tiếp với thú săn mồi → không có lợi thế độ cao → xác suất bị tấn công cao → gà mẹ ngừng hỗ trợ sau giai đoạn tập bay → con yếu bị loại. | IF gà con >5 tuần không lên được cây ngủ THEN xác suất bị thú săn mồi bắt đạt ~75–80%. | MP09_FLOCK | 0.7 | Video |
| experiment | NGAV-MP09-EX-20260315-001 | 2026-03-15 | Giảm số gà trống từ 5 xuống 3 làm giảm đánh nhau 70.7% | Đàn gà có 5 gà trống trưởng thành, sống chung trong cùng đàn. Tần suất đánh nhau trong 5 ngày liên tiếp trước can thiệp lần lượt là 7, 8, 6, 9, 11 lần/ngày, trung bình 8.2 lần/ngày. | Tách 2 gà trống ra khỏi đàn, để lại 3 gà trống trưởng thành trong đàn cũ, rồi tiếp tục theo dõi số lần đánh nhau trong 5 ngày liên tiếp sau can thiệp. | Sau khi tách 2 con, số lần đánh nhau trong 5 ngày liên tiếp còn 2, 3, 2, 4, 1 lần/ngày, trung bình 2.4 lần/ngày.; Mức giảm tuyệt đối: 5.8 lần/ngày.; Mức giảm tương đối: khoảng 70.7%. | Số gà trống tăng → số cặp cạnh tranh giành mái và vị trí thống trị tăng → tần suất va chạm và tái khởi phát xung đột tăng. | IF đàn có trên 3 gà trống trưởng thành trong cùng một nhóm mái THEN tần suất đánh nhau có thể tăng lên khoảng 6–11 lần/ngày. IF giảm số gà trống xuống còn 3 con THEN tần suất đánh nhau có thể giảm xuống khoảng 1–4 lần/ngày. | MP09_FLOCK | 0.8 | Video |
| experiment | NGAV-MP05-EX-20260412-004 | 2026-04-12 | Mái ấp không nở nhận nuôi gà con lạc và hình thành liên kết mẹ con | Đàn gà con 5 tuần tuổi; Có 3 con đã lên cây ngủ với gà mẹ; Còn 1 gà con màu vàng không lên được cây → ngủ dưới đất (bơ vơ); Có 1 gà mái đen ấp 28 ngày nhưng không nở con nào | Dọn bỏ ổ gà mái đen để kết thúc trạng thái ấp và quan sát hành vi gà mái đen sau khi mất ổ | Gà mái đen liên tục phát tiếng cục cục tìm con, gà con màu vàng tiếp cận và được gà mái nhận làm con nuôi, ban ngày dẫn đi ăn ban đêm ấp ngủ ổn định | Bản năng làm mẹ vẫn duy trì sau khi ấp không nở, gà mái phát tín hiệu tìm con, gà con đơn lẻ tiếp cận kích hoạt phản xạ chăm sóc và hình thành liên kết mẹ con | Nếu gà mái đang ở trạng thái bản năng làm mẹ và gà con thiếu mẹ thì có thể nhận nuôi dù không cùng huyết thống | MP05_MATERNAL | 0.8 | Video |
| experiment | NGAV-MP03-EX-20260412-005 | 2026-04-12 | Tỏi gừng ớt nghệ 2 ngày làm giảm phân loãng từ 5/11 xuống 0/7 | Quan sát số lần gà đi ngoài phân loãng trong 5 ngày liên tiếp lần lượt là 5/11, 4/7, 3/9, 2/7, 3/8 | Băm tỏi gừng ớt nghệ trộn chung và để vào một chảo cho gà tự ăn theo nhu cầu | Sau 2 ngày số lần đi ngoài phân loãng giảm còn 2/9, 1/8, 0/7, 0/6, 1/9 | Thức ăn nhiễm khuẩn hoặc giun gây rối loạn tiêu hóa, các hợp chất cay nóng và kháng khuẩn trong tỏi gừng ớt nghệ giúp giảm vi khuẩn và kích thích tiêu hóa nên phân trở lại bình thường | IF cho gà ăn thêm hỗn hợp tỏi gừng ớt nghệ THEN tỷ lệ phân loãng giảm và hệ tiêu hóa ổn định hơn | MP03_FEEDING | 0.9 | Video |
| experiment | NGAV-MP01-EX-20260418-001 | 2026-04-18 | Tách mái đẻ 7 ngày giữ ổ ấp ổn định không bị tranh ổ và vỡ trứng | 02 gà mái đẻ chung một ổ, một con đã vào ấp còn con còn lại vẫn quay lại giành ổ để vào đẻ tiếp | Ưu tiên giữ con mái đang ấp và cách ly con mái còn đẻ ra khu riêng 7 ngày, trong khu cách ly bố trí ổ đẻ tạm | Gà mái bị tách vẫn đẻ đều trong khu cách ly và không còn giành ổ, ổ ấp được giữ ổn định không bị vỡ trứng hay gián đoạn | Gà có xu hướng đẻ vào ổ đã có trứng vì coi là nơi an toàn, khi đã từng đẻ tại đó sẽ hình thành trí nhớ ổ và quay lại giành ổ kể cả khi có mái khác đang ấp | IF có nhiều mái cùng giành một ổ đẻ THEN cần tách mái đang đẻ ra khu riêng để tránh vỡ trứng hoặc gián đoạn quá trình ấp | MP01_NESTING | 0.9 | Video |
| experiment | NGAV-MP07-EX-20260412-006 | 2026-04-12 | Một cá thể chiếm 50% sinh sản làm tăng trùng huyết và giảm phản xạ | Đàn gà nuôi năm 2010 tại trang trại Đạ Tẻh bị trùng huyết, sau 3 năm số lượng giảm mạnh do phản xạ kém bị thú săn mồi bắt, hiện tại 1 gà trống đầu đàn chiếm 50% gà con trong đàn và 1 mái hoa mơ chiếm 30% gà trưởng thành và choai | Tách riêng gà trống đầu đàn và gà mái hoa mơ để giảm nguy cơ giao phối cận huyết trong đàn | Giảm nguy cơ trùng huyết trong các lứa sau và cải thiện khả năng sinh tồn của đàn trước thú săn mồi | Trùng huyết làm suy giảm đa dạng di truyền dẫn đến phản xạ chậm và khả năng né tránh kém, khi một cá thể chiếm tỷ lệ sinh sản quá lớn sẽ làm tăng nhanh mức độ cận huyết trong đàn | IF một vài cá thể chiếm tỷ lệ sinh sản quá lớn trong đàn THEN cần tách ra để tránh trùng huyết vì trùng huyết làm giảm phản xạ và tăng nguy cơ bị thú săn mồi tiêu diệt | MP07_GENETICS | 0.9 | Video |
| experiment | NGAV-MP05-EX-20260201-001 | 2026-02-01 | Úp lồng 2 tuần đầu giúp giữ 6/6 con so với thả tự do còn 4 con | Hai ổ gà nở cùng thời điểm, ổ vàng đất 7 con và ổ vàng chanh 6 con, mỗi ổ có 2 con nở sau yếu hơn | Một ổ úp gà mẹ trong lồng giới hạn di chuyển, một ổ thả gà mẹ dẫn con tự do trong vườn rộng | Sau 2 tuần đàn úp lồng còn đủ 6 con trong khi đàn thả tự do chỉ còn 4 con | Gà mẹ trong tự nhiên ưu tiên đàn con khỏe theo kịp, con yếu bị tụt lại sẽ bị đào thải do thiếu bảo vệ và giữ nhiệt, khi úp lồng con yếu vẫn giữ được khoảng cách gần mẹ nên tăng khả năng sống | IF úp gà mẹ trong không gian giới hạn trong 2 tuần đầu THEN tỷ lệ sống của gà con đặc biệt con yếu sẽ cao hơn so với thả tự do | MP05_MATERNAL | 0.9 | Video |
| experiment | NGAV-MP01-EX-20260905-015 | 2026-05-09 | Can thiệp 4 yếu tố tăng tỷ lệ nở trứng gà | Để gà tự đẻ và tự ấp trong lùm cây, không can thiệp thì tỷ lệ nở chỉ đạt 3/11 trứng. | Làm ổ cao khoảng 40cm; gom trứng hàng ngày và thay bằng trứng giả; bảo quản trứng ở nhiệt độ 17-19°C; khi mái vào ấp thì thay lại trứng thật; tới ngày 15 thì hạ ổ sát mặt nền. | Tỷ lệ nở đạt 8/10 trứng. Trong đó có 1 trứng không có trống và 1 trứng con so bầu nhỏ không nở. | Ngoài tự nhiên trứng dễ bị ẩm, kiến, chuột phá và bị mái nằm đẻ kích phôi sớm làm giảm thời gian bảo quản hữu hiệu. Khi xử lý các yếu tố này thì tỷ lệ nở tăng mạnh. | Nếu can thiệp bảo quản trứng, chống kiến chuột, giữ khô thoáng, làm ổ cao khi đẻ và hạ thấp khi gần nở thì tỷ lệ nở có thể tăng mạnh. | MP01_NESTING | 0.9 | Video |
| experiment | NGAV-MP05-EX-20260509-001 | 2026-05-09 | Tách đàn mới nở 15 ngày đầu giữ tỷ lệ sống tăng từ 1/7 lên 8/8 | Khi đàn gà mới nở được thả hòa nhập đàn lớn ngay, gà trống thường đạp mái làm loạn và giẫm chết gà con; lúc ăn chung bị giẫm đạp và mổ. Ngoài vườn còn có mèo, chuột và bìm bịp săn bắt. Các đàn trước sau 2 tuần chỉ còn 1/7, 2/6 và 2/7 con sống. | Sau khi nở, đưa gà mẹ và đàn con vào khu riêng khoảng 20m2 quây lưới mắt cáo. Gà con vẫn có thể chui ra ngoài vài mét nhưng chủ yếu ở trong khu cùng gà mẹ trong 15 ngày đầu. | Sau 2 tuần đàn gà giữ nguyên tỷ lệ sống 8/8 con. | Đàn gà con hòa nhập đàn lớn quá sớm làm tăng nguy cơ bị giẫm đạp, bị mổ và bị thú săn mồi bắt do chưa đủ khả năng né tránh và theo mẹ ổn định. Khu riêng làm giảm cạnh tranh, giảm va chạm với đàn lớn và giảm tiếp xúc với thú săn mồi nên tăng mạnh tỷ lệ sống. | IF tách riêng gà mẹ và đàn con trong khoảng 15 ngày đầu sau nở THEN tỷ lệ sống có thể tăng từ mức 1/7–2/7 lên 8/8. | MP05_MATERNAL | 0.9 | Video |
| observation | NGAV-MP03-OB-20260509-002 | 2026-05-09 | Gà đi phân lỏng tự tìm lá mơ ăn và ổn định tiêu hóa sau 1 ngày | Ngày trước đó quan sát thấy 2 con gà đi phân lỏng trong đàn nuôi thả vườn. | Passive observation — theo dõi hành vi ăn uống tự nhiên của 2 con gà bị đi phân lỏng, không can thiệp. | Hôm sau quan sát thấy 2 con gà tự bay lên bờ rào ăn lá mơ và tình trạng tiêu chảy chấm dứt. | Khi hệ tiêu hóa mất cân bằng, gà có xu hướng tự tìm các loại lá có hoạt tính hỗ trợ tiêu hóa và kháng khuẩn. Lá mơ chứa hợp chất có thể giúp giảm rối loạn tiêu hóa nên hành vi tự tìm ăn xuất hiện khi gà bị tiêu chảy. | IF gà bị tiêu chảy và trong vườn có sẵn lá mơ THEN gà có thể tự tìm ăn để hỗ trợ ổn định tiêu hóa. | MP03_FEEDING | 0.7 | Video |
| experiment | NGAV-MP05-EX-20260509-003 | 2026-05-09 | Bổ sung thức ăn tại ổ giúp đàn nở lệch tăng tỷ lệ sống từ 4/7 lên 8/8 | Các đàn gà nở lệch ngày 1–3 ngày thường có con nở sớm suy yếu do thiếu thức ăn kéo dài và con nở sau cùng cũng yếu. Khi gà mẹ rời ổ dẫn đàn sớm thì tỷ lệ sống thường chỉ còn 4/7 hoặc 5/7 con. | Bổ sung thức ăn và nước uống ngay tại ổ trong giai đoạn còn trứng chuẩn bị nở và có gà con mới nở chưa theo mẹ được. | Tỷ lệ sống khi rời ổ tăng lên 8/8 con. | Gà con mới nở chỉ còn nguồn dinh dưỡng dự trữ trong noãn hoàng khoảng 24–48 giờ. Khi đàn nở lệch ngày, gà mẹ có xu hướng tiếp tục nằm ổ để chờ các trứng chuẩn bị nở nên gà con nở sớm không được dẫn đi ăn đúng thời điểm và suy yếu. Bổ sung thức ăn và nước uống ngay tại ổ giúp gà con nở sớm duy trì năng lượng cho tới khi cả đàn rời ổ. | IF đàn gà có con nở lệch nhau khoảng 2–3 ngày THEN cần bổ sung thức ăn và nước uống tại ổ để nâng tỷ lệ sống từ khoảng 4/7 lên 8/8. | MP05_MATERNAL | 0.9 | Video |
| experiment | NGAV-MP06-EX-20260509-004 | 2026-05-09 | Tăng độ ẩm và hạ ổ ngày 15 giúp tỷ lệ nở tăng từ 0/9 lên 8/10 | Trong giai đoạn đầu gà mái ấp, ổ được đặt cao khoảng 40cm và dùng đèn gầm giữ khô với độ ẩm khoảng 50% để chống mạt và côn trùng. Tuy nhiên nếu duy trì điều kiện này suốt quá trình ấp thì có ổ không nở con nào, tỷ lệ 0/9. | Tới ngày thứ 14–15 của quá trình ấp, hạ ổ sát mặt nền, tắt đèn gầm và tưới nước quanh ổ để nâng độ ẩm môi trường lên khoảng 80–90%. | Tỷ lệ nở đạt 8/10 trứng. | Hai tuần đầu cần môi trường khô để hạn chế mạt và giảm mất nhiệt cho gà mái; ổ cao giúp tránh thú săn mồi. Tuy nhiên giai đoạn cuối phôi cần độ ẩm cao để tránh mất nước và khô màng trứng gây chết phôi khi mổ vỏ. Hạ ổ sát nền còn giúp gà con mới nở rơi ra ngoài có thể tự quay lại ổ theo mẹ. | IF từ ngày 14–15 của quá trình ấp tăng độ ẩm môi trường lên trên 80% và hạ ổ sát mặt nền THEN tỷ lệ nở có thể tăng từ 0/9 lên 8/10. | MP06_INCUBATION_ENV | 0.9 | Video |
| observation | NGAV-MP01-OB-20260509-005 | 2026-05-09 | Gà quay lại đúng vị trí đẻ ấp ngoài vườn ở chu kỳ sinh sản tiếp theo | Dù có khu chuồng đẻ ấp được thiết kế tốt nhưng trong đàn khoảng 3/10 con mái vẫn chọn đẻ và ấp trong các lùm cây ngoài vườn. | Giữ nguyên vị trí gà đã từng đẻ ấp ngoài vườn và tiếp tục quan sát hành vi lựa chọn ổ ở chu kỳ sinh sản tiếp theo. | Sau khi nuôi con trưởng thành và bước vào chu kỳ đẻ ấp mới, gà mái quay lại đúng vị trí đã từng đẻ ấp trước đó. | Gà mái có xu hướng ưu tiên các vị trí tự nhiên mang lại cảm giác an toàn theo bản năng sinh tồn. Khi một vị trí đã từng đẻ và ấp thành công, gà hình thành trí nhớ không gian và quay lại vị trí đó trong các chu kỳ sinh sản sau. | IF vẫn còn giữ nguyên vị trí tự nhiên mà gà từng đẻ ấp trước đó THEN gà mái có xu hướng quay lại đúng vị trí này ở chu kỳ sinh sản tiếp theo. | MP01_NESTING | 0.7 | Video |
| experiment | NGAV-MP01-EX-20260509-006 | 2026-05-09 | Gà mái ưu tiên ổ kín 3 mặt dù thay đổi vị trí nhiều lần | Quan sát trong đàn cho thấy gà mái thường chọn các ổ có cảm giác kín và an toàn thay vì các ổ hở xung quanh. | Sử dụng hai loại ổ gồm can nhựa khoét lỗ ngang có 3 mặt kín và thùng sơn nước hở xung quanh; đổi vị trí qua lại nhiều lần để quan sát lựa chọn của gà mái. | Gà mái liên tục ưu tiên chọn ổ can nhựa kín 3 mặt thay vì ổ thùng sơn hở. | Trong môi trường tự nhiên, gà ưu tiên vị trí giảm nguy cơ bị thú săn mồi tấn công từ phía trên và phía sau. Ổ kín 3 mặt tạo cảm giác an toàn và giảm góc tiếp cận của thú săn mồi, trong khi ổ hở tạo trạng thái dễ bị tấn công nên ít được chọn. | IF có sẵn ổ kín 3 mặt tạo cảm giác an toàn THEN gà mái sẽ ưu tiên chọn theo bản năng sinh tồn dù vị trí ổ thay đổi. | MP01_NESTING | 0.8 | Video |
| experiment | NGAV-MP01-EX-20260509-007 | 2026-05-09 | Gà mái ưu tiên ổ có trứng thật thay vì trứng nhựa làm trứng mồi | Trong khu đẻ bố trí xen kẽ các ổ có trứng mồi bằng trứng gà thật và trứng nhựa để dẫn dụ gà vào đẻ. | Đặt xen kẽ các ổ dùng trứng thật và trứng nhựa làm trứng mồi, đồng thời liên tục đổi vị trí các ổ qua lại nhiều lần để quan sát lựa chọn của gà mái. | Gà mái thường ưu tiên chọn các ổ có trứng thật, đặc biệt là vị trí đã từng đẻ hôm trước hoặc các ổ gần đó có trứng thật. | Dù hình dạng tương tự nhau nhưng trứng thật có trọng lượng, nhiệt dung và cảm giác tiếp xúc khác trứng nhựa. Gà mái có thể phân biệt qua cảm nhận sinh học và ưu tiên các ổ mang tín hiệu giống ổ đẻ tự nhiên. | IF dùng trứng mồi để giữ ổ hoặc thay trứng mới đẻ THEN dùng trứng gà thật hiệu quả hơn trứng nhựa trong việc duy trì hành vi đẻ và chọn ổ của gà mái. | MP01_NESTING | 0.8 | Video |
| experiment | NGAV-MP06-EX-20260509-008 | 2026-05-09 | Xoay trứng mỗi ngày giúp tỷ lệ nở bảo quản đạt 90–100% | Trứng có trống được bảo quản để chống kích phôi sớm trước khi cho gà mái vào ấp. | Bảo quản trứng ở khoảng 17°C và độ ẩm khoảng 80%; xếp trứng đầu to hướng lên trên theo góc nghiêng khoảng 45 độ; mỗi ngày xoay lật lại một lần trong thời gian bảo quản. | Tỷ lệ nở đạt khoảng 90–100%. | Nhiệt độ và độ ẩm phù hợp giúp phôi duy trì trạng thái nghỉ mà không kích hoạt phát triển sớm. Việc xoay đảo trứng mỗi ngày làm thay đổi hướng tác động của trọng lực lên phôi và lòng đỏ, giúp giảm nguy cơ phôi bám dính cố định vào màng vỏ trong quá trình bảo quản. | IF trứng có trống được bảo quản ở nhiệt độ và độ ẩm phù hợp đồng thời xoay đảo mỗi ngày một lần THEN tỷ lệ nở có thể duy trì ở mức 90–100%. | MP06_INCUBATION_ENV | 0.9 | Video |
| experiment | NGAV-MP06-EX-20260509-009 | 2026-05-09 | Bảo quản trứng 17°C độ ẩm 80 giúp kéo dài thời gian nở lên 20 ngày | Theo cách dân địa phương, trứng để trong nhà nơi khô thoáng ở nhiệt độ khoảng 18–26°C và độ ẩm 60–80% thường bảo quản nở được khoảng 10 ngày. Chôn sâu khoảng 1m dưới đất với nhiệt độ 20–22°C và độ ẩm khoảng 90% có thể kéo dài lên khoảng 15 ngày. | Dùng thùng xốp đặt hộp nước đá để giữ nhiệt; đặt thùng giấy lót trấu và xếp khay trứng vào trong; duy trì nhiệt độ khoảng 17°C và độ ẩm khoảng 80%; xoay trứng mỗi ngày một lần trong thời gian bảo quản. | Thời gian bảo quản trứng vẫn giữ khả năng nở được kéo dài lên khoảng 20 ngày. | Nhiệt độ dao động khoảng 16–18°C giúp phôi duy trì trạng thái nghỉ mà không bị lạnh tổn thương hoặc kích hoạt phát triển sớm. Độ ẩm khoảng 80% giúp hạn chế mất nước nhưng không gây đọng ẩm. Việc xoay trứng hàng ngày giúp giảm nguy cơ phôi bám dính vào màng vỏ trong thời gian bảo quản dài. | IF bảo quản trứng ở khoảng 17°C, độ ẩm khoảng 80% và xoay trứng mỗi ngày THEN thời gian giữ khả năng nở có thể kéo dài tới khoảng 20 ngày. | MP06_INCUBATION_ENV | 0.9 | Video |
| experiment | NGAV-MP06-EX-20260509-010 | 2026-05-09 | Bóc vỏ hỗ trợ làm chết 4/13 gà con trong ổ đang nở | Ổ có 13 trứng có trống; soi ngày thứ 12 thấy mạch máu và phôi phát triển khá đầy đủ. Đêm ngày thứ 20 nhiều trứng bắt đầu mổ vỏ, một số quả chưa thoát ra hoàn toàn nhưng vẫn nghe tiếng gà con kêu bên trong. | Dùng tay bóc nhẹ vỏ trứng để hỗ trợ gà con thoát khỏi vỏ thay vì để tự nở hoàn toàn. | Ổ nở được 9/13 gà con nhưng có 4 con chết sau khi được bóc hỗ trợ trong quá trình nở. | Khi gà con mổ vỏ, quá trình tự xoay người và hấp thu phần dinh dưỡng cuối từ lòng đỏ vẫn đang tiếp diễn. Việc bóc vỏ sớm có thể làm rách lớp màng còn dính mạch máu và mô mềm, gây chảy máu hoặc làm gián đoạn hấp thu dinh dưỡng dẫn tới chết phôi. | IF can thiệp bóc vỏ hỗ trợ quá sớm trong quá trình nở THEN tăng nguy cơ gà con chết so với để tự thoát khỏi vỏ tự nhiên. | MP06_INCUBATION_ENV | 0.8 | Video |
| experiment | NGAV-MP08-EX-20260509-011 | 2026-05-09 | Biochar trấu hun giúp giảm mật độ mạt trên gà từ hơn 10 xuống còn 1 | Gà bị mạt ký sinh. Thử bằng cách nhốt một cặp gà trong lồng có đặt bẫy mạt bằng giấy bìa gấp bôi vaseline, ghi nhận trên bẫy dính hơn 10 con mạt. | Dùng các nửa thùng phi đặt nơi có nắng; đổ cát phía dưới và phủ lớp Biochar trấu hun dày khoảng 20cm có lẫn tro để gà tự vào bới, đằm và dũ mạt hàng ngày. | Sau khoảng 1 tuần, đưa lại cặp gà trước đó vào lồng có bẫy mạt thì chỉ còn ghi nhận 1 con mạt dính trên bẫy. | Khi bị ngứa do mạt, gà có bản năng tự đằm và dũ ký sinh trùng. Biochar và tro tạo bề mặt khô, sắc và hút ẩm; khi gà trà sát cơ thể vào lớp Biochar thì mạt bị rách lớp biểu bì và mất nước nhanh dẫn tới chết. | IF bố trí các khu đằm Biochar trấu hun có lẫn tro ở nơi nắng cho gà sử dụng thường xuyên THEN mật độ mạt trên gà có thể giảm khoảng 90% (từ hơn 10 xuống 1 con mạt trên bẫy). | MP08_PARASITE_PRESSURE | 0.8 | Video |
| observation | NGAV-MP05-OB-20260509-012 | 2026-05-09 | Gà mẹ nuôi 8 con chỉ ăn khi đàn con đã ngủ trong cánh | Gà mẹ đang nuôi 8 gà con nhỏ; ban ngày liên tục mổ gọi con ăn uống, canh thú săn mồi và ủ ấm cho đàn con. | Ban đêm khi gà con đã chui vào cánh ngủ thì mang thức ăn và nước uống tới gần gà mẹ để quan sát phản ứng. | Gà mẹ bắt đầu ăn và uống khi đàn gà con đã ngủ ổn định trong cánh. | Trong giai đoạn nuôi con nhỏ, hành vi bảo vệ và chăm sóc đàn con được ưu tiên cao hơn nhu cầu ăn uống của gà mẹ. Khi gà con đã ngủ an toàn và không còn cần dẫn dắt hay cảnh giới liên tục, gà mẹ mới chuyển sang hành vi tự ăn uống để bổ sung năng lượng. | IF gà mẹ đang nuôi đàn con nhỏ THEN phần lớn hành vi sẽ ưu tiên chăm sóc và bảo vệ đàn con trước nhu cầu ăn uống của chính nó. | MP05_MATERNAL | 0.7 | Video |
| observation | NGAV-MP04-OB-20260509-013 | 2026-05-09 | Gà mẹ úm con giữa trời mưa dù có chỗ trú khô trong 2 năm quan sát | Khoảng 2 năm trước quan sát thấy gà mẹ vẫn úm và dẫn đàn con giữa trời mưa dù khu vực xung quanh vẫn có chỗ không bị mưa. | Passive observation — theo dõi hành vi gà mẹ và khả năng thích nghi của đàn gà trong khoảng 2 năm, không can thiệp. | Đàn gà vẫn thích nghi với điều kiện mưa tự nhiên và tiếp tục sinh hoạt bình thường ngoài trời. | Trong môi trường bán hoang dã, một số gà mẹ vẫn duy trì hành vi úm và dẫn đàn con ngoài trời mưa thay vì di chuyển ngay tới vị trí trú khô. | IF trời mưa thì một số gà mẹ vẫn tiếp tục úm và dẫn đàn con ngoài trời thay vì trú khô. | MP04_HABITAT | 0.6 | Video |
| experiment | NGAV-MP09-EX-20260509-014 | 2026-05-09 | Cách ly trống cuồng đạp mái giúp giữ an toàn đàn gà con mới xuống ổ | Đàn gà con mới rời ổ theo mẹ; trống hoa trắng lao vào đạp mái khiến 2/6 gà con bị giẫm chết trong đàn nuôi bán hoang dã. | Tách riêng và cách ly trống hoa trắng ra khỏi khu đàn đang có mái mới dẫn con. | Đàn gà con còn lại được giữ an toàn, không tiếp tục xảy ra tình trạng giẫm đạp chết con. | Trong đàn bán hoang dã, mật độ gà trống ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ cạnh tranh sinh sản. Khi số lượng trống dư thừa, hành vi tranh phối tăng mạnh khiến trống lao vào đạp cả mái mới dẫn con, làm tăng nguy cơ giẫm đạp và gây chết gà con nhỏ. | IF đàn bán hoang dã có quá nhiều gà trống trưởng thành THEN cần tách bớt trống để tránh hành vi đạp mái gây chết gà con; tỷ lệ phù hợp khoảng 2 trống trưởng thành cho 14–16 mái. | MP09_FLOCK | 0.8 | Video |
| experiment | NGAV-MP03-EX-20260510-001 | 2026-05-10 | Úp lồng trồng rau lang giúp gà ăn rau trực tiếp mà không phá gốc | Thái rau cho gà ăn thủ công thì gà ăn ít và bỏ thừa nhiều, đồng thời tốn công. Nếu trồng rau trực tiếp trong vườn cho gà ăn thì gà thường bới phá toàn bộ gốc rau. | Trồng rau lang xuống đất rồi dùng lồng lưới mắt cáo rộng khoảng 1m cao 80cm úp lên khu rau để bảo vệ gốc. | Rau mọc xuyên ra ngoài lồng thì gà tự ăn; gà con khoảng 4 tuần tuổi có thể chui vào trong lồng ăn rau mà không làm hỏng gốc. | Lồng lưới ngăn gà trưởng thành bới trực tiếp vào gốc rau nên cây tiếp tục sinh trưởng ổn định. Phần rau mọc ra ngoài lồng trở thành nguồn thức ăn xanh tự nhiên cho đàn gà; gà con nhỏ chưa đủ lực bới phá nên vẫn có thể vào trong ăn mà không làm hỏng hệ rễ. | IF trồng rau và dùng lồng lưới úp bảo vệ gốc THEN gà có thể ăn rau trực tiếp theo nhu cầu mà không phá hỏng luống rau và giảm công cho ăn thủ công. | MP03_FEEDING | 0.9 | Video |
| experiment | NGAV-MP03-EX-20260510-002 | 2026-05-10 | Bộ lọc Biochar nhỏ giọt giúp giảm phân lỏng ở gà từ 10 xuống 3 lần | Nước uống để trong thùng nhựa 1–2 ngày thường xuất hiện lớp nhớt trên thành; nghi ngờ chứa vi khuẩn như E.Coli, Coliform và trứng giun làm gà dễ bị tiêu chảy và đi phân lỏng. | Dùng thùng sơn nước làm bộ lọc nhỏ giọt; bên trong xếp các lớp sỏi, cát, cát mịn và Biochar. Nước sau lọc được mở qua romine nhỏ giọt xuống đĩa nông đặt nơi có nhiều ánh nắng mặt trời. | Tình trạng đi phân lỏng ở đàn gà giảm từ khoảng 10 lần xuống còn khoảng 3 lần. | Các lớp sỏi, cát và Biochar giúp giữ cặn bẩn và giảm tải vi sinh trong nước. Nước nhỏ giọt qua không khí và mặt nước luôn dao động giúp tăng hòa tan oxy. Ánh nắng mặt trời hỗ trợ giảm vi khuẩn trong khay nước. Tổ hợp lọc cơ học, hấp phụ bằng Biochar và oxy hóa tự nhiên giúp giảm mầm bệnh đường ruột trong nước uống. | IF dùng hệ lọc nước Biochar nhỏ giọt kết hợp ánh nắng mặt trời cho nước uống của gà THEN tình trạng tiêu chảy và phân lỏng có thể giảm khoảng 7/10. | MP03_FEEDING | 0.9 | Video |
| observation | NGAV-MP05-OB-20260511-001 | 2026-05-11 | Gà mẹ dẫn đàn con nhỏ đi ăn sớm hơn đàn có gà con lớn | Khoảng 4h45 sáng các đàn gà mẹ có con nhỏ vài ngày tuổi đã bắt đầu rời ổ đi ăn, trong khi đàn gà lớn vẫn ngủ trên cây thêm khoảng 30–40 phút mới xuống kiếm ăn. | Passive observation — theo dõi 4 đàn gà có độ tuổi con khác nhau từ khoảng 1–4 tuần tuổi vào buổi sáng sớm. | Đàn có gà con càng nhỏ thì được gà mẹ dẫn đi ăn sớm hơn; các đàn có con lớn hơn xuống kiếm ăn muộn hơn theo thứ tự. | Buổi sáng sớm có nhiều sương mai để gà con uống và lượng côn trùng hoạt động cao trước khi nhiệt độ tăng. Thời điểm này cũng ít cạnh tranh thức ăn với đàn lớn nên gà mẹ ưu tiên dẫn đàn con nhỏ đi kiếm ăn sớm để tăng cơ hội sống sót. | IF đàn gà con còn nhỏ tuổi THEN gà mẹ có xu hướng dẫn đàn đi kiếm ăn sớm hơn vào buổi sáng. | MP05_MATERNAL | 0.8 | Video |
| experiment | NGAV-MP08-EX-20260511-002 | 2026-05-11 | Bẫy giấy bôi kem giúp phát hiện và đo mật độ mạt trong ổ gà | Mạt có thể xuất hiện ở nhiều vị trí trong môi trường nuôi gà như ổ ấp, khe chuồng và trên thân gà nhưng khó quan sát trực tiếp bằng mắt thường. | Cắt giấy thành các tấm gấp nhiều lớp; phết kem trị ghẻ ngứa hoặc sáp nẻ lên bề mặt; đặt vào vị trí cần kiểm tra và để qua đêm. | Những vị trí có mạt sẽ xuất hiện mạt dính trên các khe giấy; số lượng mạt dính phản ánh mức độ nhiễm nhiều hay ít. | Ban đêm mạt rời nơi ẩn nấp để hút máu vật chủ và sáng sớm quay lại chui vào các khe tối. Các khe giấy mô phỏng nơi trú ẩn tự nhiên; lớp kem hoặc sáp làm mạt bị dính lại nên có thể kiểm tra và ước lượng mật độ mạt trong khu vực. | IF dùng bẫy giấy có bôi kem hoặc sáp đặt qua đêm THEN có thể xác định chính xác vị trí và mức độ nhiễm mạt để chọn biện pháp xử lý phù hợp. | MP08_PARASITE_PRESSURE | 0.8 | Video |
| observation | NGAV-MP05-OB-20260512-001 | 2026-05-12 | Gà con đang ngủ sẽ lập tức chạy tìm mẹ khi cảm nhận nguy hiểm | Đàn gà con ngủ trong sân; nhẹ nhàng bốc gà mẹ ra xa khoảng 10m nhưng cả gà mẹ và đàn con vẫn tiếp tục ngủ bình thường. | Tạo tác động làm đàn gà con giật mình và mất cảm giác an toàn tại vị trí ngủ để quan sát phản ứng của gà mẹ và gà con. | Đàn gà con lập tức kêu lớn và chạy đi tìm mẹ; gà mẹ cũng gọi đáp lại và cuối cùng mẹ con tìm được nhau. | Trong trạng thái an toàn, nhịp sinh học và nhu cầu nghỉ ngơi chi phối hành vi ngủ của cả gà mẹ và gà con. Khi xuất hiện tín hiệu nguy hiểm vượt ngưỡng an toàn, phản xạ sinh tồn kích hoạt khiến gà con phát tín hiệu gọi mẹ và di chuyển tìm nơi bảo vệ; gà mẹ phản hồi bằng âm thanh định hướng để tập hợp đàn con. | IF môi trường ngủ chuyển từ an toàn sang không an toàn THEN gà con sẽ lập tức phát tín hiệu và chạy tìm gà mẹ trong đêm. | MP05_MATERNAL | 0.8 | Video |
| observation | NGAV-MP01-OB-20260512-002 | 2026-05-12 | Gà mái quay lại đúng ổ ngoài vườn sau khi bị cách ly 20 ngày | Hai mái cùng đẻ chung một ổ ngoài vườn. Khi mái cổ vàng vào ấp thì mái cổ xám được tách sang khu cách ly khoảng 20 ngày. Trong thời gian cách ly, mái cổ xám vẫn tiếp tục đẻ vài trứng nhưng không chịu ấp tại khu cách ly. | Sau thời gian cách ly, thả mái cổ xám trở lại khu vườn và tiếp tục quan sát vị trí nó chọn để thiết lập chu kỳ đẻ mới; thay các trứng mới đẻ ở ổ ngoài vườn bằng trứng mồi để giữ ổ. | Mái cổ xám quay lại đúng vị trí ổ ngoài vườn đã từng đẻ chung trước đó và tiếp tục đẻ tại vị trí này. | Trong trạng thái bán hoang dã, một số gà mái có xu hướng ưu tiên các vị trí tự nhiên như lùm cây ngoài vườn để đẻ và ấp. Khi một vị trí được đánh giá là an toàn và từng sinh sản thành công, tín hiệu không gian và cảm giác an toàn được lưu vào trí nhớ hành vi khiến gà quay lại đúng vị trí này ở các chu kỳ tiếp theo. | IF gà bán hoang dã đã ghi nhớ một vị trí ngoài vườn là nơi đẻ an toàn THEN nó có xu hướng quay lại đúng vị trí đó trong các chu kỳ sinh sản sau dù từng bị cách ly tạm thời. | MP01_NESTING | 0.8 | Video |
| observation | NGAV-MP05-OB-20260512-003 | 2026-05-12 | Gà con 6 ngày tuổi tìm được mẹ cách 22m bằng tín hiệu âm thanh | Kiểm tra khả năng gà con khoảng 5–6 ngày tuổi tìm lại gà mẹ khi bị tách xa và khuất sau căn nhà. | Tách gà mẹ ra phía sau căn nhà, khuất tầm nhìn của đàn gà con khoảng 5–6 ngày tuổi, rồi quan sát cách đàn con tìm mẹ. | Đàn gà con tìm được mẹ bằng cách đi theo hướng bên phải căn nhà theo đường hình chữ L với tổng quãng đường khoảng 22m. | Ban đầu khi bị tách mẹ đột ngột, gà con rơi vào trạng thái hoảng sợ nên chưa di chuyển ngay. Khi ổn định lại, chúng định hướng bằng tiếng gọi của gà mẹ và lựa chọn hướng tiếp cận ngắn nhất theo tín hiệu âm thanh dù không nhìn thấy trực tiếp. | IF gà con khoảng 5–6 ngày tuổi bị lạc mẹ trong phạm vi khoảng 22m THEN chúng vẫn có thể định hướng và tìm lại gà mẹ bằng tín hiệu âm thanh. | MP05_MATERNAL | 0.8 | Video |
| experiment | NGAV-MP03-EX-20260512-004 | 2026-05-12 | Hệ nước nhỏ giọt giúp gà con uống nước sạch và tránh chết đuối | Khi úm gà mẹ trong lồng, dùng bình nước uống nhựa chuyên dụng thì nhanh xuất hiện màng sinh học; dùng khay thấp thì gà con bới đất làm nước bẩn; dùng thau nước rộng khoảng 25cm cao 20cm chứa khoảng 15cm nước thì xảy ra trường hợp gà con chết đuối. | Dùng thùng sơn 18 lít lắp rô-mi-nê cho nước chảy nhỏ giọt liên tục vào một đĩa nước nhỏ đặt cho gà con uống. | Gà con có nguồn nước sạch để uống và không còn xảy ra tình trạng chết đuối trong thau nước. | Nước nhỏ giọt liên tục giúp mặt nước luôn chuyển động nên giảm hình thành màng sinh học. Đĩa nước nông giảm nguy cơ gà con rơi vào và chết đuối. Ánh nắng mặt trời hỗ trợ giảm vi sinh trên mặt nước và dòng nhỏ giọt giúp tăng hòa tan oxy trong nước uống. | IF dùng hệ nước nhỏ giọt chảy vào đĩa nông cho gà con uống THEN nước sạch hơn và giảm nguy cơ gà con chết đuối. | MP03_FEEDING | 0.9 | Video |
| observation | NGAV-MP05-OB-20260512-005 | 2026-05-12 | Gà mẹ và gà con 6 ngày tuổi vẫn tìm được nhau trong đêm qua nhiều chướng ngại vật | Kiểm tra khả năng định hướng và vượt chướng ngại vật của đàn gà con khoảng 6 ngày tuổi trong điều kiện ban đêm. | Khi đàn đang ngủ đêm, tách gà mẹ ra vị trí khuất cách khoảng 20m với nhiều chướng ngại vật giữa mẹ và đàn con. | Gà mẹ và đàn con vẫn tìm được nhau; sau đó gà mẹ tiếp tục dẫn đàn vượt thêm khoảng 15m qua chướng ngại vật để tìm nơi ngủ an toàn hơn. | Ban đêm khả năng quan sát của gà con giảm mạnh nên việc định hướng chủ yếu dựa vào tín hiệu âm thanh của gà mẹ. Phản xạ bám theo tiếng gọi và khả năng di chuyển tránh vật cản giúp đàn con tiếp cận được mẹ và tiếp tục theo mẹ tới nơi an toàn. | IF gà mẹ và đàn con khoảng 6 ngày tuổi bị tách nhau trong đêm ở khoảng cách khoảng 20m có nhiều chướng ngại vật THEN chúng vẫn có thể tìm lại nhau bằng tín hiệu âm thanh và tiếp tục di chuyển tới nơi an toàn. | MP05_MATERNAL | 0.8 | Video |
| experiment | NGAV-MP03-EX-20260512-006 | 2026-05-12 | Hệ nước nhỏ giọt giúp giảm màng sinh học và giữ nước uống sạch cho gà | Nước uống chứa trong bình nhựa chuyên dụng hoặc chậu nhựa thường xuất hiện lớp màng sinh học sau khoảng 1 ngày. Nước trong chậu xi măng dễ có vi khuẩn, ấu trùng và trứng ếch nhái dù thay nước hàng ngày. | Dùng thùng sơn nhựa lắp rô-mi-nê cho nước chảy nhỏ giọt liên tục xuống một khay nước nông cho gà uống. | Đàn gà có nguồn nước uống sạch và giảm tình trạng nước bị nhớt hoặc nhiễm bẩn nhanh. | Nước nhỏ giọt liên tục làm mặt nước luôn chuyển động nên giảm hình thành màng sinh học. Ánh nắng mặt trời hỗ trợ giảm vi sinh trên mặt nước và dòng chảy giúp tăng hòa tan oxy. Nước trong khay liên tục được thay mới nên đất bẩn từ chân gà ít tích tụ lâu trong khay uống. | IF dùng hệ nước nhỏ giọt cho nước uống của gà THEN nước sạch hơn và giảm hiện tượng màng sinh học cùng ô nhiễm trong khay uống. | MP03_FEEDING | 0.8 | Video |
| experiment | NGAV-MP10-EX-20260512-007 | 2026-05-12 | Thả tre nổi trong hồ giúp gà con rơi xuống nước không bị chết đuối | Trong sân có hồ cá với mặt nước thấp hơn mép hồ khoảng 15cm; gà con khoảng 3 ngày tuổi khi rơi xuống nước không tự leo lên được và có nguy cơ chết đuối. | Thả 2 đoạn tre nổi trên mặt nước trong hồ để tạo điểm bám và điểm đứng cho gà con. | Gà con khi rơi xuống hồ không còn bị chết đuối vì có thể trèo lên đoạn tre nổi rồi nhảy ra khỏi hồ. | Gà con nhỏ có khả năng bật nhảy khá tốt trên nền cứng nhưng khi ở trong nước không có điểm tựa nên không thể thoát lên bờ. Đoạn tre nổi tạo bề mặt đứng ổn định giúp gà con lấy lực và bật nhảy ra khỏi hồ dễ dàng. | IF trong ao hồ có đặt vật liệu nổi làm điểm bám THEN gà con rơi xuống nước có thể tự thoát ra và giảm nguy cơ chết đuối. | MP10_SYSTEM_DESIGN | 0.9 | Video |
| observation | NGAV-MP01-OB-20260514-001 | 2026-05-14 | Xóa ổ ngoài vườn làm gà mái chuyển sang đẻ chung ổ với mái khác | Hai gà mái đang đẻ ở hai lùm cây khác nhau ngoài vườn; trong khu Avi vẫn còn khoảng 7/10 ổ đẻ trống chưa sử dụng. | Xóa ổ đẻ ngoài vườn của mái vàng nhạt để quan sát vị trí nó chọn ở chu kỳ đẻ tiếp theo. | Mái vàng nhạt chuyển sang đẻ chung tại ổ ngoài vườn của mái xám thay vì quay vào sử dụng các ổ trống trong Avi. | Gà bán hoang dã có xu hướng ưu tiên các vị trí tự nhiên như lùm cây ngoài vườn để đẻ trứng. Khi vị trí quen thuộc bị mất, gà sẽ tìm một vị trí tự nhiên khác đã được xác nhận an toàn thay vì chuyển sang các ổ nhân tạo dù còn trống. | IF trong vườn tồn tại các lùm cây được gà đánh giá là vị trí đẻ an toàn THEN nhiều gà mái có thể tập trung đẻ chung tại cùng một ổ ngoài vườn. | MP01_NESTING | 0.8 | Video |
| experiment | NGAV-MP06-EX-20260514-002 | 2026-05-14 | Biochar giúp bảo quản trứng trong thùng xốp không bị mốc | Trứng được bảo quản trong thùng xốp bằng hệ gồm hộp nước đá, thùng giấy, lớp trấu, khay trứng và phủ vải bố. Trong điều kiện độ ẩm cao khoảng 80%, lớp trấu bị mốc và làm trứng có mùi mốc lây sang. | Thay thùng giấy mới và thay lớp trấu bằng Biochar; đặt khay trứng lên trên rồi phủ vải bố tiếp tục bảo quản trong thùng xốp có nước đá. | Trứng không còn xuất hiện mùi mốc hoặc dấu hiệu nấm mốc lây từ vật liệu bảo quản. | Trấu là vật liệu hữu cơ nên trong môi trường ẩm cao dễ giữ nước và tạo điều kiện cho nấm mốc phát triển. Biochar có cấu trúc xốp với diện tích bề mặt lớn giúp hấp phụ hơi ẩm và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi; đồng thời môi trường carbon hóa ít dinh dưỡng làm giảm khả năng phát triển của nấm và vi sinh vật. Điều này giúp vùng bảo quản ổn định hơn và hạn chế mùi mốc lan sang vỏ trứng. | IF dùng Biochar thay cho trấu trong hệ bảo quản trứng bằng thùng xốp có nước đá THEN không bị nấm mốc | MP06_INCUBATION_ENV | 0.9 | Video |
| experiment | NGAV-MP09-EX-20260515-001 | 2026-05-15 | Tách gà mái khỏi khu nuôi làm 3 gà trống sống hòa bình với nhau | Con Gallus đầu đàn rất hung dữ và từng đánh nhiều con khác để chiếm vị trí đầu đàn. Ba con gà trống được nuôi chung trong khu cách ly khoảng 20m2; trước đó khi có gà mái trong khu thì con Gallus liên tục đuổi đánh hai con còn lại. | Tách hoàn toàn gà mái ra khỏi khu cách ly và tiếp tục quan sát hành vi giữa 3 gà trống. | Ba con gà trống sống gần nhau với khoảng cách chỉ vài chục cm mà không xảy ra đánh nhau liên tục như trước. | Hành vi cạnh tranh của gà trống chủ yếu liên quan tới quyền tiếp cận gà mái. Khi không có mái trong khu vực, động lực bảo vệ lãnh thổ và cạnh tranh sinh sản giảm mạnh nên mức độ gây hấn cũng giảm theo. | IF khu nuôi không có gà mái THEN nhiều gà trống có thể sống chung hòa bình hơn và giảm hành vi đánh nhau. | MP09_FLOCK | 0.8 | Video |
| observation | NGAV-MP08-OB-20260515-002 | 2026-05-15 | Bìm bịp xuất hiện làm mất 2–4 trứng gà mỗi tuần | Trong khu vườn có khoảng 10 ổ gà đẻ và ấp; trong đó có 3 ổ đang ấp và 7 ổ còn lại chứa trứng mới đẻ hoặc trứng mồi. Không đặt bẫy hoặc biện pháp xua đuổi bìm bịp. | Passive observation — theo dõi sự xuất hiện của bìm bịp và số lượng trứng mất trong khu vực nuôi. | Khi bìm bịp xuất hiện trong khu vườn thì mỗi tuần mất khoảng 2–4 quả trứng gà. | Trứng gà giàu protein là nguồn thức ăn khoái khẩu của bìm bịp. Khi phát hiện khu vực có nhiều ổ trứng, bìm bịp có xu hướng quay lại khai thác lặp lại. | IF bìm bịp xuất hiện thường xuyên gần khu ổ gà THEN nguy cơ mất khoảng 2–4 quả trứng mỗi tuần tăng lên. | MP08_PARASITE_PRESSURE | 0.7 | Video |
| experiment | NGAV-MP01-EX-20260518-001 | 2026-05-18 | Gà mái cổ xám chọn ổ mới làm cách 2m thay vì 7 ổ trống cách 15m | 2 mái chung 1 ổ tự nhiên ngoài vườn (lùm cây). Khi 1 con chiếm ổ, con còn lại cần ổ thay thế. Cùng lúc: Avi core cách 15m có 7 ổ trống + 1 ổ chế cùng ngày cách 15m. | Làm 1 ổ mới cách ổ gốc 2m, cấu trúc tương tự (lùm cây, che phủ giống). Không can thiệp thêm. Quan sát 2 ngày. | Ngày 2: gà cổ xám chọn ổ mới cách 2m để đẻ. Bỏ qua toàn bộ 7 ổ Avi core và ổ chế cùng ngày tại 15m. | Gà ưu tiên ổ gần nhất có cấu trúc tương đồng → khoảng cách 2m được chấp nhận, 15m bị loại dù có 7+ ổ trống. Tối thiểu hóa di chuyển > tối đa hóa lựa chọn. Ngưỡng chính xác giữa 2m–15m chưa xác định. | IF ổ mới có cấu trúc tương tự + cách ổ gốc ≤2m THEN gà mái chuyển sang đẻ trong ≤2 ngày. IF cách >15m THEN gà không chọn dù có 7+ ổ trống. | MP01_NESTING | 0.85 | Video |
| experiment | NGAV-MP06-EX-20260518-001 | 2026-05-18 | Lồng hộp đá vào hộp kín + muối hột thay trấu giảm độ ẩm từ 85-90% xuống 65-70% | Thùng xốp bảo quản trứng có hộp nước đá, lót hộp giấy bằng trấu/Biochar xếp trên mặt hộp đá. Baseline: độ ẩm 85-90%, nhiệt độ chưa tối ưu. Mục tiêu: đạt 65-70% ẩm và 19-20°C cho phôi ngủ. | Lồng hộp nước đá vào hộp lớn hơn bịt kín hơi. Thay lớp lót hộp giấy từ trấu/Biochar sang muối hột. Đo lại độ ẩm sau can thiệp. | Độ ẩm giảm từ 85-90% xuống 65-70%. Nhiệt độ đạt 19-20°C — nằm trong ngưỡng lý tưởng bảo quản trứng/phôi ngủ. | Hộp đá hở → nước tan tạo hơi nước trực tiếp vào thùng → trấu/Biochar không hút đủ → ẩm 85-90%. Khi bọc kín hộp đá: hơi nước bị giữ trong lớp cách ly → không thoát vào thùng. Muối hột hút phần hơi thừa còn lọt ra → duy trì 65-70%. Cơ chế kép: ngăn nguồn + hút dư → kiểm soát ẩm chính xác hơn dùng 1 lớp hút đơn thuần. | IF hộp đá được lồng kín hơi VÀ lót muối hột thay trấu/Biochar THEN độ ẩm trong thùng xốp đạt 65-70% và nhiệt độ 19-20°C. IF dùng trấu/Biochar với hộp đá hở THEN độ ẩm vượt 85-90%. | MP06_INCUBATION_ENV | 0.88 | Video |
| observation | NGAV-MP04-OB-20260519-001 | 2026-05-19 | Mèo hoang 5kg bắt đều đặn 1 gà con mỗi 2-3 ngày qua lối cố định trong 10 ngày | Khu tách dưỡng 20m2, rào lưới B40, có cửa sổ thông giữa bếp và khu tách dưỡng. Đàn gà con mới nở ở dưới đất. Baseline: mèo hoang ~5kg hoạt động buổi tối và sáng sớm. Trước quan sát: chưa rõ lối đi. | Passive observation — không can thiệp. Ghi nhận tần suất mất gà, quan sát hành vi và lối di chuyển của mèo. | 4 gà con bị bắt trong 10 ngày, tần suất đều đặn 1 con/2-3 ngày. Lối đi xác định: vòng cửa sổ sau → qua bếp → vào khu tách dưỡng qua cửa sổ thông B40. | Gà con mới nở = nguồn thức ăn mật độ cao, di chuyển chậm, vị trí cố định dưới đất → mèo định vị chính xác. 1 gà con ~đủ khẩu phần 2-3 ngày cho mèo 5kg → chu kỳ săn tối ưu theo nhu cầu năng lượng. Lối đi lặp lại cố định → mèo đã học và tối ưu hóa đường vào khu tách dưỡng. | IF đàn gà con mới nở ở khu tách dưỡng có điểm thông với bên ngoài THEN mèo hoang xâm nhập theo lối cố định, bắt 1 con/2-3 ngày. IF bịt toàn bộ điểm thông THEN chu kỳ mất gà dừng. | MP04_HABITAT | 0.75 | Video |
| observation | NGAV-MP03-OB-20260519-001 | 2026-05-19 | Gà mái trong chu kỳ đẻ thường xuyên ăn lá sung | Đàn gà được thả tự do trong vườn ươm có khoảng 20 loại cây khác nhau. | Passive observation — theo dõi hành vi lựa chọn lá cây của gà mái trong thời gian đẻ trứng. | Mỗi 1–2 ngày các gà mái đang trong chu kỳ đẻ lại tới ăn lá sung. | Lá sung chứa nhiều khoáng và chất xơ tự nhiên; trong giai đoạn tạo trứng, nhu cầu khoáng và thức ăn xanh của gà mái tăng lên nên chúng có xu hướng tự lựa chọn thực vật phù hợp. | IF gà mái đang trong chu kỳ đẻ trứng THEN chúng có xu hướng quay lại ăn lá sung thường xuyên. | MP03_FEEDING | 0.75 | Video |
| observation | NGAV-MP05-OB-20260519-002 | 2026-05-19 | Gà mẹ lao tới nguồn phát âm thanh gà con kêu cứu | Đàn gà mẹ con đang kiếm ăn cách vị trí phát âm thanh khoảng 8m. | Bật một video khác có âm thanh gà con đang kêu cứu tìm mẹ phát ra từ điện thoại. | Gà mẹ lập tức chạy tới, đi vòng quanh điện thoại và liên tục gọi con. | Tiếng kêu cứu của gà con là tín hiệu ưu tiên cao trong hành vi chăm con của gà mẹ. Khi nghe tín hiệu này, gà mẹ phản xạ tìm kiếm và gọi đáp lại để xác định vị trí con bị lạc. | IF xuất hiện tiếng gà con kêu cứu tìm mẹ THEN gà mẹ sẽ nhanh chóng lao tới nguồn phát âm thanh và phản ứng tìm con. | MP05_MATERNAL | 0.85 | Video |
| observation | NGAV-MP05-OB-20260521-003 | 2026-05-21 | Gà mẹ thử quả mận chín rồi dạy gà con ăn | Đàn gà mẹ con được thả trong vườn có nhiều loại thức ăn tự nhiên và cây mận đang vào mùa quả chín. | Passive observation — theo dõi hành vi gà mẹ khi tiếp cận quả mận xanh và quả mận chín trong vườn. | Gà mẹ mổ thử quả mận chín và sau đó gọi, hướng dẫn gà con tới ăn; trước đó khi chỉ có gà con ở gốc mận mà không có mẹ thì gà con chưa ăn quả mận. | Gà mẹ trong tự nhiên có vai trò chọn lọc và hướng dẫn nguồn thức ăn phù hợp cho đàn con. Sau khi kiểm tra thức ăn an toàn và dễ ăn, gà mẹ phát tín hiệu gọi đàn để gà con học hành vi ăn theo. | IF vào mùa quả mận chín THEN gà mẹ có thể thử trước và hướng dẫn gà con ăn quả mận chín. | MP05_MATERNAL | 0.85 | Video |
| experiment | NGAV-MP04-EX-20260521-004 | 2026-05-21 | Cho gà mẹ ngủ trong lồng giúp mèo hoang không bắt được gà con | Bầy gà mẹ con sống trong khu lưới B40 khoảng 20m2 nhưng mèo hoang thường luồn qua cửa sổ vào bắt gà con, trung bình 2–3 ngày mất 1 con và 10 ngày mất 4 con. | Ban đêm cho gà mẹ vào ngủ trong lồng; gà con tự do nhưng tự chui qua khe nan vào ngủ với mẹ. Buổi sáng gà con ra ngoài tự do từ khoảng 5h–8h mới thả gà mẹ ra. | Trong 5 ngày liên tiếp mèo hoang không bắt được gà con nào. | Mèo hoang thường tiếp cận và vồ gà con khi chúng ngủ sát dưới cánh mẹ ngoài không gian mở. Khi gà mẹ ngủ trong lồng, khoảng cách giữa mèo và gà con bị giới hạn bởi nan lồng nên mèo không thể với tới để bắt gà con. | IF cho gà mẹ ngủ trong lồng vào ban đêm THEN giảm mạnh nguy cơ mèo hoang bắt gà con. | MP04_HABITAT | 0.9 | Video |
| experiment | NGAV-MP09-EX-20260521-005 | 2026-05-21 | Cho gà con ăn trong lồng giúp giảm thương vong do dẫm đạp trong đàn hỗn hợp | Đàn gà bán hoang dã có nhiều kích cỡ khác nhau; khi cho ăn ít thì gà lớn tranh mồi, mổ nhau và dễ dẫm đạp lên gà con, còn cho ăn quá nhiều làm giảm khả năng kiếm mồi tự nhiên. | Úp một cái lồng lên khu vực rải thức ăn để chỉ gà con dưới khoảng 6 tuần tuổi mới chui vào ăn được. | Trong 7 ngày liên tiếp, hai đàn gà con khoảng 2 tuần và 3 tuần tuổi không có con nào bị tai nạn hoặc thương vong khi ăn. | Trong đàn hỗn hợp, gà lớn thường tranh mồi và tạo xung đột khi ăn. Gà con phản xạ tránh né còn yếu nên dễ bị dẫm đạp; lồng tạo vùng ăn riêng giúp giảm tiếp xúc trực tiếp giữa gà lớn và gà con khi ăn. | IF cho thức ăn trong khu lồng chỉ gà con chui vào được THEN giảm nguy cơ gà con bị thương vong do xung đột và dẫm đạp trong đàn hỗn hợp. | MP09_FLOCK | 0.9 | Video |
| observation | NGAV-MP01-OB-20260521-006 | 2026-05-21 | Gà mái ưu tiên đẻ chung các ổ tự nhiên ngoài vườn dù còn nhiều ổ Avi trống | Trong vườn có nhiều ổ tự nhiên trong lùm cây; gà cổ xám quay lại ổ cũ sau cách ly, vàng nhạt vào đẻ chung, sau đó đen không mào tiếp tục chọn ổ ngoài vườn dù khu Avi cách khoảng 15m vẫn còn 7/10 ổ trống. | Làm thêm một ổ mới cách ổ cũ khoảng 2m và tiếp tục quan sát hành vi lựa chọn ổ của các gà mái đang vào chu kỳ đẻ. | Khi một ổ ngoài vườn đã có gà đẻ hoặc nằm lâu, các gà mái khác tiếp tục ưu tiên vào đẻ chung hoặc chọn ổ mới rất gần đó thay vì chuyển vào Avi. | Gà mái bán hoang dã ưu tiên các vị trí tự nhiên đã được “xác nhận an toàn” bởi sự hiện diện của gà khác. Khi một ổ đã có hoạt động đẻ ổn định, các mái khác có xu hướng tập trung đẻ quanh cùng khu vực thay vì chọn ổ nhân tạo trống ở xa hơn. | IF tồn tại ổ tự nhiên ngoài vườn có gà mái đang đẻ THEN các gà mái khác vào chu kỳ đẻ sẽ ưu tiên chọn đẻ gần hoặc chung ổ đó. | MP01_NESTING | 0.85 | Video |
| experiment | NGAV-MP06-EX-20260521-007 | 2026-05-21 | Thay trứng bảo quản ngay ngày đầu mái vào ấp có nguy cơ làm mái bỏ ổ | Mái cổ xám vừa vào chu kỳ ấp; thông thường sẽ chờ mái ấp 1–2 ngày cho “say ổ” rồi mới thay trứng bảo quản vào để tăng tỷ lệ nở của các trứng để lâu. | Thay toàn bộ trứng bảo quản vào ngay trong ngày đầu tiên mái vừa vào ấp. | Sau khi thay trứng, mái hoảng sợ bay khỏi ổ khoảng 30 phút rồi mới quay lại ổ trong đêm lúc khoảng 20h28. | Mái mới vào ấp chưa ổn định hành vi bảo vệ ổ nên thay đổi đột ngột trong ổ có thể kích thích phản xạ bỏ chạy. Tuy nhiên hormone sinh sản và bản năng ấp buộc mái quay lại tìm ổ trong đêm. | IF thay trứng ngay ngày đầu tiên mái vừa vào ấp THEN nguy cơ mái hoảng sợ bỏ ổ tạm thời sẽ tăng lên. | MP06_INCUBATION_ENV | 0.75 | Video |
| observation | NGAV-MP08-OB-20260522-008 | 2026-05-22 | Mèo hoang bắt được gà con còn sóc bị gà mái đánh bật khỏi ổ | Trong khu Avi có 2 ổ gà đang ấp và đàn gà con khoảng 2 tuần tuổi; mèo hoang và sóc cùng xuất hiện quanh khu vực để tìm cơ hội săn mồi hoặc lấy trứng. | Passive observation — theo dõi hành vi săn mồi và phản ứng của gà mái đối với mèo hoang và sóc. | Mèo hoang bắt được một gà con rồi mang lên cây ăn; sóc bị gà mái mổ đau và phải rút lui nhưng sau đó vẫn quay lại tìm cơ hội lấy trứng. | Mèo hoang có cơ thể lớn, khả năng phục kích và thao tác săn mồi nhanh nên dễ bắt gà con. Sóc nhỏ hơn nhiều nên khó đối đầu trực tiếp với gà mái bảo vệ ổ và chủ yếu tìm cơ hội lấy trứng khi ít bị chống trả. | IF mèo hoang và sóc cùng tiếp cận khu gà ấp và gà con THEN mèo hoang có khả năng bắt gà con hiệu quả hơn sóc. | MP08_PARASITE_PRESSURE | 0.85 | Video |
| observation | NGAV-MP03-OB-20260522-009 | 2026-05-22 | Trời chuyển mưa làm đàn gà ở ngoài vườn muộn để bắt côn trùng | Trời chuyển mưa làm lượng côn trùng trong vườn tăng mạnh vào cuối chiều. | Passive observation — theo dõi vị trí và hành vi kiếm ăn của đàn gà vào cuối ngày. | Sau 17h đàn gà vẫn ở ngoài vườn ươm để bắt côn trùng thay vì tập trung gần cây bưởi chuẩn bị ngủ như ngày bình thường. | Trước khi mưa, nhiều côn trùng hoạt động mạnh và di chuyển ra ngoài khiến nguồn thức ăn tăng đột ngột. Đàn gà ưu tiên tận dụng nguồn protein dễ kiếm này nên kéo dài thời gian kiếm ăn trước khi lên ngủ. | IF trời chuyển mưa và côn trùng xuất hiện nhiều THEN đàn gà sẽ ưu tiên ra vườn bắt côn trùng dù đã muộn hơn thời gian ngủ bình thường. | MP03_FEEDING | 0.8 | Video |
| observation | NGAV-MP05-OB-20260522-010 | 2026-05-22 | Gà mái nuôi con 2 tuần tuổi liên tục tránh không cho trống đạp mái | Đàn gà mẹ đang nuôi đàn con khoảng 2 tuần tuổi; gà trống nhiều lần tiếp cận để đạp mái. | Passive observation — theo dõi phản ứng của gà mái khi bị gà trống đuổi theo trong giai đoạn nuôi con nhỏ. | Gà trống đuổi theo khoảng 3 lần nhưng gà mái liên tục chạy và bay tránh để không cho giao phối. | Trong giai đoạn nuôi con nhỏ, hormone và hành vi chăm con khiến gà mái ưu tiên bảo vệ và dẫn đàn con hơn là quay lại chu kỳ sinh sản mới. Việc giao phối lúc này có thể làm gián đoạn khả năng chăm sóc và tăng nguy cơ cho đàn con nên gà mái phản xạ tránh né mạnh. | IF gà mái đang nuôi đàn con khoảng 2 tuần tuổi THEN nó sẽ phản ứng tránh né mạnh và không cho gà trống đạp mái. | MP05_MATERNAL | 0.85 | Video |
| experiment | NGAV-MP08-EX-20260522-011 | 2026-05-22 | Lắp đèn cảm biến chuyển động giúp giảm mèo hoang bắt gà con ban đêm | Mèo hoang thường luồn qua cửa sổ vào khu tách đàn và trung bình mỗi 2–3 ngày bắt mất một gà con vào ban đêm. | Lắp 3 đèn năng lượng mặt trời có cảm biến chuyển động gần khu đàn gà con ngủ. | Sau 4 ngày liên tiếp không có gà con nào bị mèo hoang bắt. | Mèo hoang săn mồi chủ yếu trong bóng tối và dựa vào yếu tố bất ngờ. Khi mèo tiến gần đàn gà, cảm biến kích hoạt đèn bật sáng đột ngột làm mèo cảnh giác và rút lui khỏi khu vực. | IF lắp đèn cảm biến chuyển động gần nơi gà con ngủ THEN giảm nguy cơ mèo hoang tiếp cận và bắt gà con vào ban đêm. | MP08_PARASITE_PRESSURE | 0.85 | Video |
| observation | NGAV-MP04-OB-20260524-012 | 2026-05-24 | Gà vẫn ưu tiên ngủ ở vị trí cao an toàn dù trời mưa lớn | Vào khoảng 17h khi đàn gà chuẩn bị lên ngủ thì trời đổ mưa lớn; khu vực vẫn có nhiều nơi trú khô như chuồng gà cũ, chuồng mới, mái hiên và nhà kho. | Passive observation — theo dõi vị trí ngủ của đàn gà trong điều kiện mưa lớn vào buổi chiều. | Một số gà lớn vẫn bay lên cây bưởi cao khoảng 4–5m để ngủ; một gà trống đứng chờ trên vị trí cao giữa mưa để tiếp tục lên cây, trong khi gà mái cổ vàng úm 5 gà con ngủ giữa trời mưa thay vì vào nơi có mái che. | Gà bán hoang dã ưu tiên vị trí ngủ có khả năng quan sát và tránh thú săn mồi hơn là ưu tiên khô ráo tuyệt đối. Vị trí cao giúp gà cảm thấy an toàn và dễ kiểm soát môi trường xung quanh nên chúng vẫn chọn ngủ trên cây dù trời mưa lớn. | IF tồn tại vị trí ngủ cao và an toàn THEN gà có xu hướng ưu tiên chọn ngủ tại đó dù đang mưa lớn. | MP04_HABITAT | 0.8 | Video |
| experiment | NGAV-MP09-EX-20260525-013 | 2026-05-25 | Gà con 1–3 tuần tuổi giảm bị dẫm đạp khi được ăn trong lồng ưu tiên | Trong đàn gà hỗn hợp, gà lớn thường tranh mồi, đánh và dẫm đạp gà nhỏ; nhiều đàn gà con bị giảm từ 7 còn 3 hoặc từ 8 còn 4 con sau vài tuần. | Úp một lồng sắt lưới lên khu vực cho ăn để chỉ gà con chui vào được còn gà lớn không vào được. | Đàn 8 con chỉ mất 1 con do đuối nước hồ cá và 1 con do đuối nước thau uống sâu; không có con nào chết do bị dẫm đạp khi ăn, còn lại 6/6 sau 3 tuần. | Khi thiếu thức ăn, đàn gà lớn tăng tranh mồi và tạo xung đột trong lúc ăn. Gà con 1–3 tuần tuổi phản xạ né tránh còn yếu nên dễ bị dẫm đạp; khu ăn riêng giúp giảm tiếp xúc trực tiếp giữa gà lớn và gà con trong lúc ăn. | IF cho thức ăn trong khu lồng chỉ gà con chui vào được THEN giảm nguy cơ gà con bị dẫm đạp khi ăn trong đàn hỗn hợp. | MP09_FLOCK | 0.9 | Video |
| observation | NGAV-MP06-OB-20260526-001 | 2026-05-26 | Ba ổ gà tự nhiên tại BrainFarm nở đúng 19 ngày liên tiếp không ngoại lệ | 3 ổ gà mái tự ấp tự nhiên tại BrainFarm Di Linh, Lâm Đồng (độ cao ~1000m, khí hậu mát). Ổ 1 (vàng chanh): 11 trứng vào ấp, soi ngày 12 loại 3 trứng trống → 8 trứng có phôi. Ổ 2 (cổ xám): 13 trứng. Ổ 3 (mào chấm đỏ): vào trứng 6/5, nở 26/5. Baseline chuẩn tài liệu: gà mái tự ấp = 20–21 ngày. | Passive observation — không can thiệp. Ghi nhận ngày vào trứng và ngày nở thực tế của 3 ổ độc lập. Soi trứng ổ vàng chanh ngày thứ 12 để loại trứng trống. | Ổ 1 (vàng chanh): nở đủ 8/8 trứng có phôi sau 19 ngày. Ổ 2 (cổ xám): nở 13/13 sau 19 ngày. Ổ 3 (mào chấm đỏ): mổ vỏ từ đêm 25/5, nở xong sáng 26/5 — đúng 19 ngày kể từ 6/5. Không có ổ nào nở 20–21 ngày. | Khí hậu Di Linh ~1000m có nhiệt độ ban ngày cao hơn đêm nhưng trung bình mát hơn đồng bằng → thân nhiệt gà mái ổn định ở ngưỡng cao hơn chuẩn máy ấp → phôi phát triển nhanh hơn 1 ngày so với tài liệu. Cơ chế chính xác chưa rõ — [biết được: 3/3 ổ độc lập, 3 con mái khác nhau, cùng kết quả 19 ngày]. | IF gà mái tự ấp tại BrainFarm Di Linh (~1000m) THEN thời gian nở là 19 ngày (n=3, 0 ngoại lệ). Lệch 1 ngày so với chuẩn tài liệu 20–21 ngày cho gà mái tự ấp. | MP06_INCUBATION_ENV | 0.82 | Video |
| experiment | NGAV-MP05-EX-20260527-014 | 2026-05-27 | Úp gà mái trong lồng giúp loại trừ 3 nguyên nhân chính gây chết gà con | Khi gà mái vừa dẫn con xuống ổ, nhiều đàn bị giảm mạnh số lượng như 7 còn 2 hoặc 6 còn 3 do ba nguyên nhân chính: gà trống đuổi đạp mái làm dẫm gà con, mèo hoang bắt ban đêm và dẫm đạp khi ăn trong đàn hỗn hợp. | Úp gà mái vàng chanh trong lồng đường kính khoảng 1m, cao khoảng 80cm trong khu riêng khoảng 2 tuần; gà con vẫn tự do chạy ra vào quanh khu vực gần mẹ. | Gà con không bị chết do gà trống đuổi mái mẹ gây dẫm đạp, không bị mèo thò tay bắt ban đêm và giảm nguy cơ bị dẫm đạp khi đàn hỗn hợp tranh ăn. | Lồng tạo vùng an toàn trung tâm cho gà mẹ và đàn con trong giai đoạn phản xạ sinh tồn còn yếu. Gà con vẫn được vận động tự do quanh mẹ nhưng giảm tiếp xúc trực tiếp với các tác nhân gây thương vong chính. | IF úp gà mái trong lồng ở giai đoạn 2 tuần đầu THEN có thể loại trừ phần lớn các nguyên nhân gây chết gà con do dẫm đạp và thú săn mồi. | MP05_MATERNAL | 0.88 | Video |
| experiment | NGAV-MP05-EX-20260527-015 | 2026-05-27 | Thả đàn gà con 13 ngày tuổi ra khỏi khu riêng để tránh bị mái mới nở mổ chết | Trong khu 20m2 có lưới B40 đang nuôi đàn 5 gà con của mái cổ vàng khoảng 13 ngày tuổi; cùng lúc mái hoa mơ cũng ấp và bắt đầu nở trong khu này. Trước đó từng xảy ra trường hợp mái vàng chanh mổ chết gà con lớn hơn của mái nâu đất khi con này chạy gần đàn mới nở. | Thả đàn gà con 13 ngày tuổi của mái cổ vàng ra khỏi khu 20m2 trước khi đàn của mái hoa mơ nở hoàn toàn. | Đàn cổ vàng đã khoảng 13 ngày tuổi và đủ phản xạ để tham gia đàn hỗn hợp bên ngoài; việc có bị đánh hay không tiếp tục được theo dõi sau khi tách khỏi khu riêng. | Gà mái có đàn con mới nở thường phản ứng rất mạnh với mọi gà lạ tới gần đàn con của mình. Khi đàn lớn hơn tiến lại gần, gà mẹ có thể xem đó là mối nguy và chủ động tấn công để bảo vệ đàn mới nở. | IF trong khu nhỏ có mái vừa nở con THEN nên tách đàn gà con lớn hơn ra khỏi khu để giảm nguy cơ bị gà mẹ mới nở tấn công. | MP05_MATERNAL | 0.82 | Video |
| experiment | NGAV-MP06-EX-20260527-016 | 2026-05-27 | Đưa trứng bảo quản vào sau 1–2 ngày mái nằm ổ giúp gà nở đồng loạt sau 19 ngày | Trứng được thay bằng trứng giả để gom bảo quản ở nhiệt độ khoảng 17–19 độ, độ ẩm 60–80, đầu to hướng lên trên nghiêng khoảng 45 độ và đảo mỗi ngày một lần để chống dính phôi. Sau khi gà mái vào nằm ổ 1–2 ngày mới đưa trứng bảo quản vào cho ấp. | Theo dõi và ghi chép ngày đưa trứng vào cùng ngày nở của 4 đàn gà khác nhau. | Cả 4 đàn đều nở đồng loạt sau khoảng 19 ngày kể từ lúc đưa trứng bảo quản vào ổ ấp. | Trong 1–2 ngày đầu mới vào ổ, gà mái thường xoay trở, sửa ổ và cảnh giác môi trường nên nhiệt truyền vào trứng chưa ổn định. Khi mái đã “say ổ”, trứng đưa vào gần như được duy trì nhiệt ấp ổn định ngay từ đầu nên thời gian phát triển phôi đồng đều hơn. | IF đưa trứng bảo quản vào sau khi gà mái đã nằm ổ 1–2 ngày THEN trứng có thể nở đồng loạt sau khoảng 19 ngày ấp. | MP06_INCUBATION_ENV | 0.9 | Video |
| experiment | NGAV-MP08-EX-20260527-017 | 2026-05-27 | Rải cát và Biochar giúp ổ gà ấp ngoài vườn không bị mạt tấn công | Mặc dù có Avi đẻ và ấp nhưng khoảng 4/10 gà mái vẫn chọn đẻ ấp ngoài vườn; các ổ ngoài vườn thường bị mạt bùng phát mạnh và có thể làm chết gà con mới nở. | Giữ nguyên ổ đẻ ngoài vườn, rải một lớp cát phía dưới và phủ Biochar trấu hun bên trên khu vực ổ ấp. | Đã có 3 ổ đẻ ấp ngoài vườn xử lý theo cách này mà không phát hiện mạt tấn công gà con. | Biochar có cấu trúc sắc cạnh và hút ẩm mạnh; khi mạt di chuyển qua dễ làm tổn thương lớp biểu bì và mất nước nhanh. Lớp cát và tro trong Biochar đồng thời tạo môi trường khô, giảm điều kiện thuận lợi cho mạt phát triển. | IF rải cát và Biochar quanh ổ ấp ngoài vườn THEN giảm mạnh nguy cơ mạt phát triển và tấn công gà con. | MP08_PARASITE_PRESSURE | 0.9 | Video |
| observation | NGAV-MP01-OB-20260527-018 | 2026-05-27 | Gà mái vẫn ưu tiên đẻ chung ổ ngoài vườn dù Avi còn nhiều ổ trống | Avi có 10 cabin ổ đẻ nhưng còn trống khoảng 7 ổ; trong khi đó có 4 gà mái tranh nhau đẻ chung tại 2 ổ ngoài vườn. Sau khi chuyển một con đi khu tách và một con vào ấp riêng, hai con còn lại tiếp tục đẻ chung một ổ ngoài vườn. | Passive observation — chỉ gom trứng bảo quản; khi có mái vào ấp thì dự định làm thêm ổ mới gần khu vực ngoài vườn đó. | Dù Avi còn nhiều ổ trống, các gà mái vẫn tiếp tục tập trung đẻ chung tại các ổ ngoài vườn đã được chọn trước đó. | Gà mái bán hoang dã có xu hướng ưu tiên các vị trí tự nhiên đã được “xác nhận an toàn” bởi hành vi của những con khác. Khi một ổ ngoài vườn đã hình thành hoạt động đẻ ổn định, các mái khác thường tiếp tục tập trung về khu vực này thay vì chuyển sang ổ nhân tạo trong Avi. | IF đã có ổ tự nhiên ngoài vườn được nhiều gà mái chọn đẻ THEN các gà mái khác có xu hướng tiếp tục tập trung đẻ chung tại đó dù Avi vẫn còn ổ trống. | MP01_NESTING | 0.82 | Video |
| experiment | NGAV-MP06-EX-20260528-019 | 2026-05-28 | Ổ cao 40cm làm gà mẹ mất khoảng 3 giờ mới dẫn đủ đàn con rời ổ | Các ổ làm năm 2025 có độ cao khoảng 80cm–1m thường xảy ra chết gà con khi rời ổ; 4 ổ từng ghi nhận mất từ 1–3 con do không theo mẹ xuống kịp. | Làm thử ổ với hai độ cao khoảng 40cm và 20cm rồi theo dõi thời gian gà mẹ dẫn đủ đàn con rời ổ. | Qua 7 ổ thử nghiệm, gà con xuống đủ 100%; với ổ cao 20cm chỉ khoảng 30 phút là rời ổ hết, còn ổ cao 40cm mất khoảng 3–4 giờ mới xuống đủ đàn. | Ổ cao giúp tăng an toàn với thú săn mồi nhưng làm gà con mới nở chần chừ khi nhảy xuống theo mẹ. Độ cao khoảng 20cm phù hợp hơn với phản xạ tự nhiên của gà con nên chúng quyết định rời ổ nhanh hơn. | IF ổ đẻ cao khoảng 40cm THEN gà mẹ có thể mất khoảng 3 giờ hoặc hơn để dẫn đủ đàn con rời ổ. | MP06_INCUBATION_ENV | 0.9 | Video |
| experiment | NGAV-MP06-EX-20260528-020 | 2026-05-28 | Bảo quản trứng ở 18–24 độ chỉ nở tốt với trứng dưới khoảng 10 ngày | Để trứng trong ổ tự nhiên không can thiệp thường chỉ nở những quả dưới khoảng 5 ngày; khi bảo quản ở 17–20 độ và độ ẩm 60–80 thì thời gian giữ trứng nở được có thể lên tới khoảng 20 ngày. Trứng của mái hoa mơ được đánh số từng ngày và bảo quản ở nhiệt độ khoảng 18–24 độ, độ ẩm 80–90. | Theo dõi khả năng nở của từng quả trứng theo số ngày bảo quản trước khi đưa vào ấp. | Trong 12 quả trứng có 3 quả không có trống được loại khi soi ngày ấp thứ 10; các quả bảo quản tới ngày 11 và 12 dù có phôi khi soi nhưng không nở thành công. | Nhiệt độ và độ ẩm bảo quản cao hơn làm phôi dễ hoạt hóa sớm và giảm ổn định sinh học trong thời gian lưu trữ dài. Khi thời gian bảo quản kéo dài trên khoảng 10 ngày ở mức 18–24 độ, khả năng phát triển hoàn chỉnh của phôi giảm rõ rệt. | IF bảo quản trứng ở khoảng 18–24 độ và độ ẩm 80–90 THEN trứng có xu hướng chỉ nở tốt trong khoảng dưới 10 ngày bảo quản. | MP06_INCUBATION_ENV | 0.88 | Video |
| observation | NGAV-MP05-OB-20260529-021 | 2026-05-29 | Gà mái nuôi đàn con nhỏ chiếm ưu thế tại khu vực cho ăn dù số lượng ít | Đàn hỗn hợp gồm 27 con: mái vàng chanh nuôi 6 gà con khoảng 21 ngày tuổi, mái nâu đất nuôi 1 gà con khoảng 28 ngày tuổi và khoảng 20 gà giò, gà trưởng thành khác. | Rắc thức ăn thành nhiều điểm cách nhau khoảng 80cm–1m rồi quan sát phản ứng của đàn. | Mái vàng chanh liên tục đuổi các gà khác khỏi 3 điểm thức ăn. Phần lớn gà phải đứng cách 4–5m, một số đứng cách khoảng 2m; chỉ khi mái vàng chanh bớt tập trung thì vài con mới tranh thủ vào ăn, cuối cùng gà trống đầu đàn mới tiếp cận được thức ăn. | Gà mái đang nuôi con có động lực bảo vệ nguồn thức ăn cho đàn con cao hơn bình thường. Hành vi phòng vệ và xua đuổi tăng mạnh trong giai đoạn nuôi con khiến ngay cả những cá thể lớn hơn cũng tránh xung đột trực tiếp. | IF gà mái đang nuôi đàn con nhỏ THEN nó có thể chiếm quyền ưu tiên tại khu vực thức ăn và đẩy các gà khác ra xa. | MP05_MATERNAL | 0.85 | Video |
| observation | NGAV-MP05-OB-20260531-022 | 2026-05-31 | Gà mẹ quay xuống đất ngủ cùng đàn con khi con chưa bay lên cây được | Qua quan sát 8 đàn trước đó, khi gà con khoảng 4 tuần tuổi gà mẹ thường bay lên cây ngủ và gọi con lên theo. Nếu sau tối đa khoảng 5 ngày gà con vẫn không lên được thì gà mẹ để chúng ngủ dưới đất và tự thích nghi với môi trường. | Quan sát đàn vàng chanh số 09 ở khoảng ngày thứ 30; đây là ngày thứ 2 gà mẹ bay lên cây bưởi cao khoảng 5m và gọi đàn con lên ngủ cùng. | Chưa có gà con nào bay lên được cây or chưa tới 05 lần ( 05 ngày ), gà mẹ vàng chanh lại bay xuống đất dẫn con đi ngủ. | Gà mẹ liên tục cân bằng giữa việc thúc đẩy khả năng tự lập của đàn con và bảo vệ đàn con khỏi rủi ro. Khi phần lớn gà con chưa đủ khả năng theo mẹ lên vị trí ngủ an toàn, gà mẹ có thể tạm thời quay lại ngủ cùng đàn để duy trì sự bảo vệ trong giai đoạn chuyển tiếp. | IF gà con chưa đủ khả năng bay lên vị trí ngủ trên cao THEN gà mẹ có thể quay xuống ngủ cùng đàn con thay vì ở lại trên cây nhưng không quá 05 ngày | MP05_MATERNAL | 0.75 | Video |
| experiment | NGAV-MP05-EX-20260531-023 | 2026-05-31 | Đổi gà con giữa hai đàn chỉ thành công trong khoảng 1–2 ngày tuổi | Hai đàn gà nở cách nhau 1 ngày, ngủ cách nhau khoảng 6m và được ngăn bởi hai lớp lưới B40 chỉ gà con chui qua được. Thực hiện thử nghiệm với đàn 1–2 ngày tuổi và lặp lại với đàn 3–4 ngày tuổi. | Nâng gà mẹ lên, xịt dầu gió để làm giảm nhận biết mùi rồi đổi mỗi đàn một gà con sang đàn còn lại. | Với đàn 1 và 2 ngày tuổi, gà mẹ và gà con chấp nhận nhau và hợp đàn. Với đàn 3 và 4 ngày tuổi, ban đêm gà con vẫn ngủ ở đàn mới nhưng đến sáng sớm lại tự quay về đàn ban đầu. | Ở giai đoạn mới nở, khả năng nhận diện cá thể và liên kết đàn còn chưa ổn định nên gà con dễ hòa nhập với đàn khác. Sau vài ngày tuổi, gà con hình thành sự gắn kết với gà mẹ và anh em cùng đàn nên có xu hướng quay về đàn gốc. | IF đổi gà con giữa hai đàn khi mới 1–2 ngày tuổi THEN khả năng được gà mẹ mới chấp nhận cao hơn so với khi đã 3–4 ngày tuổi. | MP05_MATERNAL | 0.88 | Video |
| experiment | NGAV-MP04-EX-20260531-024 | 2026-05-31 | Gà tiếp tục quay lại ngủ trên cây bưởi sau khi ngừng xua đuổi | Đàn gà bán hoang dã tại Di Linh thường xuyên chọn cây bưởi làm nơi ngủ; hiện tượng tương tự cũng được quan sát nhiều lần trong khoảng 20 năm ở miền Nam Việt Nam. Trong vườn còn có nhiều loại cây khác như mận, hồng xiêm, bơ, sầu riêng, nhãn và mít. | Trong 4 ngày liên tiếp, leo lên cây bưởi lúc khoảng 17h30 để xua đuổi đàn gà không cho ngủ trên cây này. | Gà chuyển sang ngủ trên các cây lân cận trong thời gian bị xua đuổi. Sau khi ngừng can thiệp, đàn gà quay lại ngủ trên cây bưởi. | Cây bưởi có cấu trúc cành thuận lợi cho việc đậu ngủ, tán lá đủ che chắn nhưng không quá rậm và có thể tạo môi trường ít côn trùng hơn các vị trí khác. Sau khi áp lực xua đuổi biến mất, đàn gà quay lại vị trí ngủ mà chúng đánh giá là phù hợp nhất. | IF không còn bị xua đuổi khỏi cây bưởi THEN đàn gà có xu hướng quay lại ngủ trên cây bưởi thay vì duy trì ở các cây khác. | MP04_HABITAT | 0.85 | Video |
| observation | NGAV-MP01-OB-20260602-025 | 2026-06-02 | Ba gà mái vẫn tranh cùng một ổ ngoài vườn dù có thêm ổ mới gần đó | Mặc dù khu ổ ấp tiêu chuẩn còn khoảng 8 ổ trống nhưng 3 gà mái vẫn tập trung đẻ tại khu vực ngoài vườn. Cổ xám vào ấp ở ổ số 1; một ổ tạm số 2 được làm cách đó khoảng 2m và vàng nhạt cùng đen không mào vào đẻ chung. Khi vàng nhạt vào ấp, đen không mào nằm giành ổ suốt cả ngày. | Làm thêm ổ tạm số 3 cách hai ổ còn lại khoảng 2m theo dạng tam giác rồi tiếp tục quan sát hành vi lựa chọn ổ. | Mái đen không mào vẫn tiếp tục giành ổ số 2 và không chuyển sang ổ số 3 trong suốt một ngày theo dõi. | Gà mái bán hoang dã thường ưu tiên các vị trí đã được nhiều cá thể khác xác nhận là an toàn. Khi một ổ đã hình thành lịch sử đẻ và ấp thành công, các mái khác có xu hướng tập trung vào cùng khu vực đó thay vì chuyển sang ổ mới dù điều kiện vật lý tương tự. | IF đã tồn tại ổ tự nhiên được nhiều gà mái lựa chọn THEN các gà mái khác có xu hướng tiếp tục giành và tập trung vào ổ đó thay vì chuyển sang ổ mới gần bên. | MP01_NESTING | 0.85 | Video |